Chương 1. Cơ sở lý luận về động lực và tạo động lực cho người lao động bằng các chính sách phúc lợi. Thực trạng tạo động lực cho người lao động bằng các chính sách phúc lợi tại Công ty Bất động sản Kiến Vàng. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tạo động lực bằng chính sách phúc lợi cho người lao động tại công ty Bất động sản Kiến Vàng.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG BẰNG CÁC CHÍNH SÁCH PHÚC LỢI 1. Lý luận chung về tạo động lực. Khái niệm về động lực.1 Khái niệm động lực, động lực lao động. Với các góc độ và cách tiếp cận khác nhau, hiện nay có rất nhiều quan niệm cũng như là định nghĩa về động lực lao động.
Cụ thể: Theo Maier và Lawler, “động lực” là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân. Theo tác giả Kreiter thì “động lực lao động” là một quá trình tâm lý mà nó định hướng cá nhân theo mục đích nhất định. Còn Higgins lại đưa ra nhận định: “động lực” là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn. “Động cơ thúc đẩy” là thuật ngữ chung áp dụng cho toàn bộ nhóm các xu hướng, ước mơ, nhu cầu, nguyện vọng và những thôi thúc tương tự.
Khi nói rằng các nhà quản lý thúc đẩy các nhân viên có nghĩa là ta nói rằng họ làm những việc mà họ hy vọng sẽ đáp ứng những xu hướng và nguyện vọng đó và thúc đẩy các nhân viên hành động theo một cách thức mong muốn [18, 468]. Thúc đẩy là quá trình tâm lý diễn ra do sự tác động có mục đích và theo định hướng của con người. Trong hoạt động quản trị doanh nghiệp, thúc đẩy là những tác động hướng đích của doanh nghiệp nhằm động viên nhân viên nâng cao thành tích và giúp họ hoàn thành nhiệm vụ một cách hiệu quả. Động lực là sự dấn thân, sự lao vào công việc của con người.
Khi được thúc đẩy trong một tình huống nào đó thì người ta đem vào công việc sự dấn thân hết mình, cùng tất cả mọi sức lực và trí tuệ [25, 290]. z Một định nghĩa “động lực làm việc” là một động lực có ý thức hay vô thức khơi dậy và hướng hành động vào việc đạt một mục tiêu mong đợi. Tạo động lực liên quan nhiều đến sự khích lệ và mong muốn. Tạo động lực không thể là sự đe dọa, hình phạt hay dụ dỗ.
Mỗi cá nhân được tạo động lực bởi những yếu tố khác nhau [27, 15]. Động lực do vậy là một trạng thái bên trong để tiếp sinh lực, chuyển đổi và duy trì hành vi con người để đạt được các mục tiêu. Động lực lao động gắn với các thái độ chuyển hành vi của con người hướng vào công việc và ra khỏi trạng thái nghỉ ngơi giải trí hoặc các lĩnh vực khác của cuộc sống. Động lực lao động có thể thay đổi giống như những hoạt động khác trong cuộc sống thay đổi.
Con người không chỉ khác nhau về khả năng hành động, mà còn khác nhau về cả ý chí hành động hoặc sự thúc đẩy. Sự thúc đẩy phụ thuộc sức mạnh của động cơ. Động cơ đôi khi được xác định như là nhu cầu, ý muốn, nghị lực hoặc sự thôi thúc cá nhân [5,81]. Hành vi có động lực lao động của NLĐ trong tổ chức là kết quả tổng hợp của sự kết hợp của tác động các yếu tố thuộc về cá nhân NLĐ như nhu cầu, mục đích, các quan niệm về giá trị,… và các yếu tố thuộc về tổ chức như văn hóa của tổ chức, kiểu lãnh đạo, cấu trúc của tổ chức, các chính sách về nhân lực và sự thực hiện các chính sách đó.
Những khái niệm ở trên tuy có quan điểm khác nhau nhưng đều thể hiện bản chất của động lực là: Thứ nhất, động lực lao động thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi người lao động đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ đối với tổ chức. Điều này có nghĩa không có động lực lao động chung cho mọi lao động. Mỗi người lao động đảm nhiệm những công việc khác nhau có thể có những z động lực khác nhau để làm việc tích cực hơn. Động lực lao động được gắn liền với một công việc, một tổ chức và một môi trường làm việc cụ thể.
Thứ hai, động lực lao động không hoàn toàn phụ thuộc vào những đặc điểm tính cách cá nhân. Nó có thể thay đổi thường xuyên phụ thuộc vào các yếu tố khách quan và chủ quan trong công việc. Thứ ba, động lực lao động mang tính tự nguyện, phụ thuộc chính vào bản thân NLĐ. NLĐ thường chủ động làm việc hăng say khi họ không cảm thấy có một sức ép hay áp lực nào trong công việc.
Khi được làm việc một cách chủ động tự nguyện thì họ có thể đạt được năng suất lao động tốt nhất. Thứ tư, động lực lao động đóng vai trò quan trọng trong vấn đề tăng năng suất lao động khi các điều kiện đầu vào khác không đổi. Động lực lao động như một sức mạnh vô hình từ bên trong con người thúc đẩy họ lao động hăng say hơn.2 Khái niệm tạo động lực Cũng như khái niệm “động lực”, khái niệm “tạo động lực” cũng có nhiều quan điểm khác nhau, tiêu biểu như: Tạo động lực làm việc là các biện pháp nhằm khích lệ nhân viên nỗ lực, tự giác thực hiện các nhiệm vụ. Có nghĩa là nhà quản lý khơi dậy và hướng hành động của họ vào việc đạt được một mục tiêu mong đợi.
Tạo động lực làm việc có thể tạo cho nhân viên sự thôi thúc hành động một cách có ý thức hoặc không có ý thức [5, 81]. Hay “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó” [10, 15]. Hoặc “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lưc, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [20,25].
z Theo tác giả tạo động lực lao động là tất cả những hoạt động mà một doanh nghiệp có thể thực hiện được đối với NLĐ, tác động đến khả năng làm việc, tinh thần thái độ làm việc nhằm đem lại hiệu quả cao trong lao động. Nhƣ vậy, có thể nói tạo động lực lao động là điều kiện tiên quyết để tăng năng suất lao động chính là sử dụng những biện pháp kích thích người lao động làm việc bằng cách tạo cho họ cơ hội thực hiện được những mục tiêu của mình. Nhà quản lý muốn NLĐ trong doanh nghiệp của mình nỗ lực hết sức vì tổ chức thì họ phải sử dụng tất cả các biện pháp khuyến khích đối với NLĐ, đồng thời tạo mọi điều kiện cho NLĐ hoàn thành công việc của họ một cách tốt nhất. Khuyến khích bằng vật chất lẫn tinh thần, tạo ra bầu không khí thi đua trong nhân viên,… 1.
Mục đích và vai trò của tạo động lực 1.1 Mục đích của tạo động lực Mỗi cá nhân NLĐ có những tính cách riêng, nhu cầu, tham vọng và tiềm năng khác nhau. Bởi vậy, mục đích làm việc của họ là khác nhau. Nhiệm vụ của nhà quản lý là dung hòa những cái khác nhau đó để cùng hướng tới mục tiêu chung của tổ chức. Nhà quản lý phải linh hoạt xác định và dự báo đúng nhu cầu cao nhất của nhân viên với mỗi thời điểm, từ đó làm cơ sở để đưa ra chiến lược mới tạo ra động lực thúc đẩy NLĐ làm việc.
Một là, tăng cường năng suất lao động, tăng khả năng cạnh tranh, mở rộng và chiếm lĩnh thị trường. Tạo động lực để NLĐ làm việc chăm chỉ hơn, cống hiến hết mình vì tổ chức, gắn bó với tổ chức lâu dài. Sự tồn tại và phát triển của tổ chức phụ thuộc rất lớn đến nỗ lực làm việc của các thành viên, sự cống hiến, đóng góp công sức, trí tuệ của những con người tâm huyết, hết lòng vì tổ chức. Không một tổ chức nào có thể tồn tại và phát triển với những con người làm việc hời z hợt, tâm lý luôn luôn chán nản, chán công việc.
Chính vì thế bất cứ tổ chức nào cũng cần phải tạo động lực lao động cho NLĐ. Hai là, làm cho NLĐ được thỏa mãn, được tôn trọng trong công việc, giúp NLĐ thực hiện được những nhu cầu, khát vọng của con người. Động lực lao động mang tính tự nguyện phụ thuộc chính vào bản thân NLĐ, NLĐ thường chủ động làm việc hăng say khi họ không cảm thấy có một sức ép hay áp lực nào trong công việc. Khi được làm việc một cách chủ động tự nguyện thì họ có thể đạt được năng suất lao động tốt nhất và khi đó họ cảm thấy được tôn trọng.
Có 3 mục tiêu mà NLĐ hướng đến khi làm việc. Đó là mục tiêu thu nhập, mục tiêu phát triển cá nhân và mục tiêu thỏa mãn các nhu cầu xã hội. Mục tiêu thu nhập là mục tiêu quan trọng nhất khiến NLĐ làm việc bởi vì thu nhập giúp NLĐ trang trải cuộc sống của bản thân họ và gia đình, đảm bảo cho sự sống và phát triển. Mục tiêu phát triển cá nhân là mục tiêu mà NLĐ mong muốn tự hoàn thiện mình thông qua các hoạt động đào tạo, phát triển, các hoạt động văn hóa xã hội.
Mục tiêu này được nâng cao, chú trọng hơn khi NLĐ đã có đủ thu nhập để đảm bảo cuộc sống. Mục tiêu thỏa mãn các hoạt động xã hội là nhu cầu được tham gia vào các hoạt động xã hội để tự khẳng định mình. Khi hai mục tiêu trên đã được đáp ứng nhu cầu thỏa mãn các hoạt động xã hội được NLĐ chú trong quan tâm hơn. Như vậy mục tiêu của tạo động lực cho NLĐ chính là sử dụng những biện pháp kích thích người lao động làm việc bằng cách tạo cho họ cơ hội thực hiện được những mục tiêu của mình.
Ba là, tạo động lực đánh thức tiềm năng làm việc của NLĐ, làm cho NLĐ nhiệt tình, cống hiến hết sức mình cho tổ chức. Tiềm năng của con người là vô cùng lớn. Nhưng tiềm năng vẫn chỉ là tiềm ẩn nếu như người quản lý không làm trỗi dậy tiềm năng trong NLĐ. Khi z tiềm năng của NLĐ được đánh thức thì đó chính là tài sản, là nguồn lực vô cùng quý giá của tổ chức.
Tạo động lực cho NLĐ chính là chìa khoá để đánh thức tiềm năng của NLĐ.