Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, về tạo động lực cho người lao động. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng công tác tạo động lực cho người lao động tại Công ty cổ phần xây dựng số 12 Thăng Long. Chương 4: Giải pháp hoàn thiện công tác tạo động lực cho người lao động tại Công ty cổ phần xây dựng số 12 Thăng Long”.
3 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Tạo động lực cho người lao động là một trong những yếu tố quan trọng nhất của quản trị nhân lực. Nâng cao được động lực của người lao động sẽ giúp cải thiện, nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh của công ty. Vì vậy, đây là vấn đề rất đáng được quan tâm nghiên cứu.
Thực tế, đã có một số công trình nghiên cứu ở Việt Nam liên quan đến vấn đề tạo động lực, tiêu biểu như một số công trình sau: 1. Luận văn tiến sĩ tác giả Vũ Thị Uyên (2008), Tạo động lực cho lao động quản lý trong doanh nghiệp nhà nước ở Hà Nội đến năm 2020 Luận văn nhấn mạnh đến các phương pháp tạo động lực cho lao động quản lý trong các doanh nghiệp nhà nước, cụ thể là doanh nghiệp cơ khí mỏ. Từ đó đưa ra các giải pháp cụ thể về tạo động lực cho các doanh nghiệp cơ khí, đặc biệt là doanh nghiệp cơ khí mỏ tại Việt Nam. Vì vậy, đề tài có ý nghĩa nhất định trong việc đưa ra các giải pháp tạo động lực lao động tại một doanh nghiệp cơ khí cụ thể.
Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội, Phạm Thị Thu Trang (2010), Giải pháp tạo động lực cho người lao động tại Tổng công ty đầu tư và phát triển nhà Hà Nội Đề tài nghiên cứu và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về quản trị nguồn nhân lực nói chung và vấn đề đãi ngộ nhân sự nói riêng, tạo động lực làm việc cho người lao động. Phân tích, đánh giá công tác tạo động lực trong lao động của Tổng công ty đầu tư và phát triển nhà Hà Nội. Đề tài nhằm đưa 4 z ra các giải pháp góp phần hoàn thiện công tác tạo động lực cho người lao động áp dụng tại Tổng công ty đầu tư và phát triển nhà Hà Nội. Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh trường Đại học Kinh tế quốc dân, tác giả Phạm Văn Hiền (2010), Tạo động lực cho người lao động tại trung tâm Phát triển Công nghệ cao.
Đề tài nghiên cứu, vận dụng các học thuyết tạo động lực trong phân tích, đánh giá thực trạng công tác tạo động lực cho người lao động ở Trung tâm Phát triển Công nghệ cao. Đề xuất những quan điểm và giải pháp hoàn thiện công tác tạo động lực cho người lao động của Trung tâm Phát triển Công nghệ cao. Từ đó tạo đà phát triển Trung tâm thành một đơn vị sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực công nghệ cao ngang tầm với các nhà công nghệ cao trong khu vực. Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Anh Dũng (2011), Tạo động lực cho lao động quản trị tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Cấp nước và Môi trường đô thị An Giang (DOWASEN) Đề tài nghiên cứu đã hệ thống hóa những lý luận cơ bản về động lực lao động, tạo động lực lao động, vai trò của lao động quản trị trong cơ quan và sự cần thiết phải tạo động lực cho lao động quản trị; các yếu tố tạo động lực cho lao động quản trị.
Luận văn đã phân tích thực trạng công tác tạo động lực cho lao động quản trị tại Dowasen và chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của các biện pháp tạo động lực đang được áp dụng tại Dowasen. Luận văn đề xuất một số kiến nghị và giải pháp nhằm tạo động lực cho lao động quản trị tại các công ty nhà nước nói chung và Dowasen nói riêng. Luận văn Thạc sỹ của Phan Thành Hưng (2013) với đề tài, Tạo động lực cho đội ngũ giảng viên trẻ của Đại học Lao động - Xã hội. Luận văn đã đưa ra khái nhiệm về động lực lao động của người lao động, và các yếu tố ảnh hưởng đến động lực lao động của người lao động.
Các quan 5 z điểm của các nhà nghiên cứu trên thế giới về động lực lao động và cách đo lường của Bradly E Wright về động lực lao động được chọn để làm cơ sở đưa ra thang đo đánh giá động lực lao động. Đề tài cũng đã tiến hành nghiên cứu hai giai đoạn định tính bằng hình thức thảo luận và định lượng với kỹ thuật thu thập dữ liệu là phỏng vấn thông qua bảng câu hỏi. Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả đã đưa ra những giải pháp cho những vấn đề còn tồn tại của việc tạo động lực lao động cho đội ngũ giảng viên trẻ của trường Đại học Lao động - Xã hội. Đồng thời luận văn cũng chỉ ra các hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo.
Qua khảo sát một số đề tài, tác giả nhận thấy các công trình nghiên cứu về đề tài tạo động lực cho người lao động đều đã đạt được những thành công nhất định tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số mặt hạn chế như: (1) Hầu hết các công trình mới chỉ dừng lại ở việc trình bày các học thuyết về tạo động lực lao động mà chưa có sự phân tích gắn liền với điều kiện thực tế tại Việt Nam cũng như tại đơn vị mình nghiên cứu; (2) Đối tượng nghiên cứu có rất ít lực lượng lao động hoạt động trong ngành nghề xây dựng – một lực lượng rất quan trọng. Ngoài lý do xuất phát từ các khoảng trống của các công trình nghiên cứu trên tác giả nhận thấy chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề tạo động lực cho người lao động tại Công ty cổ phần xây dựng số 12 Thăng Long. Vì vậy, tác giả hy vọng rằng đề tài này sẽ góp phần khắc phục những hạn chế và đưa ra được những giải pháp có thể ứng dụng vào thực tiễn trong công tác tạo động lực cho người lao động tại Công ty cổ phần xây dựng số 12 Thăng Long. KHÁI NIỆM, MỤC ĐÍCH VÀ VAI TRÕ VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG Lao động là nguồn gốc của mọi của cải trong xã hội, mỗi hoạt động của con người đến hướng vào những mục đích nhất định.
Con người tham gia lao động nhằm thỏa mãn những nguyện vọng mình chưa thỏa mãn hoặc chưa đạt 6 z được. Theo Mác, mục đích của nền sản xuất xã hội là nhằm thoả mãn ngày càng đầy đủ hơn những nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng tăng của bản thân người lao động. Lênin cũng khẳng định: nền sản xuất Xã hội chủ nghĩa có mục đích: “Đảm bảo đời sống đầy đủ và sự phát triển tự do và toàn diện cho tất cả các thành viên trong xã hội nhất là người lao động thì không chỉ là thoả mãn nhu cầu mà nó còn đảm bảo hạnh phúc, tạo điều kiện cho họ phát triển toàn diện, đảm bảo bình đẳng xã hội gắn liền với hạnh phúc tự do của họ”. Muốn đạt được mục đích đó thì phải không ngừng nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Muốn tăng năng suất lao động ngoài các yếu tố nâng cao cơ sở vật chất, kĩ thuật thì con người cũng là nhân tố rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất lao động. Để có thể trả lời được câu hỏi: Tại sao họ làm việc? Tại sao cùng làm việc trong một điều kiện như nhau mà người này làm việc nghiêm túc, hiệu quả còn người kia thì không? Người lãnh đạo, người quản lý phải nắm bắt được các nhu cầu và yêu cầu thiết yếu của người lao động hay nói cách khác là phải nắm được động cơ, động lực thúc đẩy người lao động làm việc để đưa ra những chính sách quản lý phù hợp, vừa thoả mãn được nhu cầu của người lao động, vừa đạt được các mục tiêu chung của tổ chức. Việc xác định được một cách chính xác các nhu cầu, động lực chính của người lao động không phải là chuyện đơn giản. Để tìm hiểu kỹ vấn đề này cần nghiên cứu và làm rõ những khái niệm cơ bản sau: 1.
Khái niệm và phân loại nhu cầu Khái niệm nhu cầu Từ lâu nhu cầu đã là đối tượng nghiên cứu của hầu hết các ngành khoa học nghiên cứu sinh học và xã hội. Trong lĩnh vực kinh tế - xã hội vấn đề về nhu cầu được tìm thấy trong nghiên cứu của các nhà khoa học tên tuổi như Jeremy Bentham, Benfild, William Stanley Jevons, John Ramsay McCulloch, 7 z Edward S. Đó là hiện tượng phức tạp, đa diện, đặc trưng cho mọi sinh vật. Sự hiện diện của nhu cầu ở bất kì sinh vật nào, ngay cả ở bất kì xã hội nào được xem như cơ thể sống phức tạp, là đặc điểm để phân biệt chủ thể đó với môi trường xung quanh.
Cho tới nay chưa có một định nghĩa chung nhất cho khái niệm nhu cầu. Các sách giáo khoa chuyên ngành hay các công trình nghiên cứu khoa học thường có những định nghĩa mang tính riêng biệt. Theo giáo trình Quản lý học, Nguyễn Thị Ngọc Huyền và đồng sự, NXB Kinh Tế Quốc Dân: “Nhu cầu là trạng thái tâm lý mà con người cảm thấy thiếu thốn không thỏa mãn về một cái gì đó và mong được đáp ứng nó”. Nhu cầu gắn liền với sự tồn tại và phát triển của con người, cộng đồng, tập thể và xã hội.
Trong phạm vi nhận thức hiện tại có thể định nghĩa nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống. Nhu cầu tối thiểu nhất, hay còn gọi là nhu yếu tuyệt đối, đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiến hóa. Nhu cầu được hiểu là sự cần thiết về một cái gì đó. Nhưng “cái gì đó” chỉ là hình thức biểu hiện bên ngoài của nhu cầu.
Sau hình thức biểu hiện ẩn chứa bản chất của nhu cầu mà có thể tạm gọi là “nhu yếu”. Nhu yếu đang nói đến lại có thể được xem là hình thức biểu hiện của một nhu yếu khác căn bản hơn. Như vậy khái niệm nhu cầu và nhu yếu mang tính tương đối với nhau.