Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tạo động lao động trong doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng tạo động lực lao động tại công ty trách nhiệm hữu hạn Vận Tải Bách Việt. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tạo động lực lao động tại công ty trách nhiệm hữu hạn Vận Tải Bách Việt Luan van 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản của tạo động lực lao động trong doanh nghiệp 1. Nhu cầu Từ lâu, nhu cầu đã là nghiên cứu của hầu hết các ngành khoa học, cho tới nay chưa có một định nghĩa chung nhất cho khái niệm “nhu cầu”.
Các sách giáo khoa chuyên ngành hay công trình nghiên cứu khoa học cũng thường có những định nghĩa mang tính riêng biệt về khái niệm nhu cầu. “Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người, là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau” [16, tr. Nhu cầu là trạng thái tâm lý mà con người cảm thấy thiếu thốn, không được thỏa mãn về một cái gì đó và mong muốn được đáp ứng.
Hay nói cách khác, nhu cầu là những mong muốn, những đòi hỏi của con người xuất phát từ những yêu cầu nhất định của điều kiện sống, nó quy định xu hướng chọn lựa các suy nghĩ, sự rung cảm và ý chí của người lao động, nó còn quy định hoạt động xã hội của mỗi cá nhân và tập thể. Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động. Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao. Về mặt quản lý, kiểm soát được nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân (trong trường hợp này, nhận thức có sự chi phối nhất định: nhận thức cao sẽ có khả năng kiềm chế sự thỏa mãn nhu cầu).
Đối với người lao động trong doanh nghiệp, nhu cầu của họ bao gồm 2 loại, đó là nhu cầu tài chính và nhu cầu phi tài chính: Nhu cầu tài chính: là nền tảng cho hoạt động sống của con người, là tổng hợp các yếu tố vật chất con người tồn tại và phát triển trong một điều Luan van 10 kiện môi trường nhất định. Cụ thể với người lao động trong doanh nghiệp, nhu cầu vật chất của họ chính là nhu cầu về tiền lương, tiền thưởng, nhu cầu về phúc lợi dịch vụ. Nhu cầu phi tài chính: là những yếu tố thỏa mãn về mặt tâm lý, tạo điều kiện cho con người phát triển về trí lực, tạo ra tâm lý thoải mái trong quá trình lao động. Với người lao động, nhu cầu phi tài chính ở đây chính là nhu cầu về việc được bố trí công việc hợp lý, được đánh giá công bằng trong quá trình lao động, được đào tạo thăng tiến, được làm việc trong môi trường và điều kiện thuận lợi.
Lợi ích Chủ nghĩa Mác- Lenin đã chỉ ra rằng: lợi ích là cơ sở của mọi cuộc đấu tranh giai cấp, lợi ích là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển. Có thể thấy lợi ích có vai trò quan trọng thúc đẩy con người đi lên. “Lợi ích là mức độ đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần do công việc đó tạo ra” [6, tr. Theo quan niệm trên thì lợi ích được hiểu là thành quả mà người lao động nhận được bằng vật chất hay tinh thần thông qua bản thân khi họ tham gia sản xuất hoặc các hoạt động khác trong tổ chức cũng như trong xã hội.
Lợi ích có vai trò to lớn trong hoạt động quản lý, trong hoạt động lao động của con người, tạo ra động lực mạnh mẽ cho các hoạt động của con người, buộc con người phải động não, cân nhắc, tìm tòi nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình. Các nhà quản trị doanh nghiệp khi tìm hiểu được tâm lý lợi ích của người lao động sẽ có những biện pháp phù hợp để khuyến khích người lao động hăng say làm viêc đạt hiệu quả công việc tốt nhất. Động cơ Động cơ có liên quan đến các yếu tố thúc đẩy cả về sinh học, cảm xúc, xã hội và nhận thức làm xuất hiện một hành vi. Trong cuộc sống thường ngày, thuật ngữ động cơ thường được dùng để mô tả tại sao một hành động diễn ra - Luan van 11 nhu cầu hoặc mong muốn chính là cái thúc đẩy hành vi và giải thích cho hành động ta thực hiện.
“Động cơ là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người, là những mục tiêu thúc đẩy hành động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu và tình cảm của họ” [5, tr.56] “Động cơ là mục đích chủ quan của hoạt động con người, của cộng đồng, của xã hội, là động lực thúc đẩy con người hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu đặt ra. Để khai thác được tiềm năng con người, nhà quản trị phải xác định được động cơ và tìm cách tác động vào động cơ để con người vươn lên hơn nữa” [7, tr. Động cơ còn là sự phấn đấu nội tâm được mô tả như những ước muốn, mong muốn mang lại trạng thái kích thích làm việc hay thúc đẩy các hành động lao động. Một người có động cơ làm việc tích cực sẽ duy trì được tốc độ làm việc, nỗ lực phấn đấu để đạt được mục đích của mình.
Động cơ càng được thỏa mãn ở mức độ cao sẽ lôi cuốn con người vào hoạt động làm việc, con người sẽ phát huy được khả năng của mình tốt hơn. Động lực lao động Có rất nhiều quan niệm khác nhau về động lực lao động. Kreiter cho rằng động lực lao động là một quá trình tâm lý mà nó định hướng cá nhân theo mục đích nhất định. Năm 1994 Higgins đưa ra khái niệm động lực là lực thúc đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa thỏa mãn.
Theo giáo trình Quản trị nhân lực của trường Đại học kinh tế quốc dân do Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân viết: “Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu, kết quả nào đó” [5, tr. Theo giáo trình Hành vi tổ chức của trường Đại học kinh tế Quốc dân do Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương cho rằng: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sẵn Luan van 12 sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [16, tr. Khi nói về động lực của người lao động trong tổ chức, các nhà quản trị thường thống nhất ở một số điểm sau đây: - Động lực gắn liền với công việc, với tổ chức và môi trường làm việc, không có động lực chung chung không gắn với công việc cụ thể nào.
Động lực lao động được thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi người lao động đang đảm nhiệm và thái độ của họ đối với tổ chức. - Động lực không phải là đặc điểm tính cách cá nhân. Điều đó có nghĩa là không có người có động lực và người không có động lực. Nó có thể thay đổi thường xuyên phụ thuộc vào các yếu tố khách quan trong công việc.
- Trong trường hợp các nhân tố khác không thay đổi, động lực sẽ dẫn tới năng suất, hiệu quả công việc cao hơn. Tuy nhiên, không nên cho rằng động lực tất yếu dẫn đến năng suất và hiệu quả công việc bởi vì sự thực hiện công việc không chỉ phụ thuộc vào động lực mà còn phụ thuộc vào khả năng của người lao động, phương tiện và các nguồn lực để thực hiện công việc. Tạo động lực lao động Để có được động lực cho người lao động thì phải tạo ra động lực đó. Tạo động lực lao động là trách nhiệm và mục tiêu của nhà quản lý.
“Tạo động lực cho người lao động là việc sử dụng các biện pháp nhất định để kích thích người lao động làm việc một cách tự nguyện, nhiệt tình, hăng say và có hiệu quả công việc tốt nhất. Tạo động lực cũng chính là tạo ra sự hấp dẫn của công việc, của tiền lương, tiền thưởng,… để hướng hành vi của người lao động theo một quỹ đạo nhất định. Hay nói cách khác, tạo động lực là các biện pháp, chính sách,… tác động đến con người nhằm làm cho họ có động lực trong lao động” [16, tr. “Tạo động lực lao động là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc’’ [6, tr.
Luan van 13 Mục đích quan trọng nhất của tạo động lực lao động là khai thác, sử dụng có hiệu quả nhất, phát huy được những tiềm năng của người lao động. Khi người lao động có động lực lao động thì họ sẽ làm việc nhiệt tình, hăng say, sử dụng hết khả năng của mình, nhờ đó những mục tiêu của tổ chức sẽ được thực hiện với hiệu quả cao. Mục đích thứ hai của tạo động lực lao động là tạo sự gắn bó, thu hút những người lao động giỏi về tổ chức. Bởi vì tạo động lực cho người lao động chính là làm cho họ được thỏa mãn khi làm việc cho tổ chức, khiến cho họ gắn bó và trung thành với tổ chức.
Tạo động lực lao động là trách nhiệm và mục tiêu trong quản lý. Một khi người lao động có động lực làm việc thì sẽ tạo ra khả năng tiềm năng nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công việc. Một số học thuyết liên quan về tạo động lực lao động 1. Học thuyết hệ thống nhu cầu của Maslow Khi nghiên cứu về tạo động lực lao động, Maslow cho rằng con người có nhiều nhu cầu khác nhau cần được thỏa mãn.
Ông chia hệ thống nhu cầu thành 5 nhóm khác nhau: nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu hoàn thiện (Hình ảnh 1 – phần phụ lục). Trong năm loại nhu cầu trên nhu cầu về sinh lý là nhu cầu thấp nhất của con người. Nhu cầu sinh lý bao gồm những nhu cầu cơ bản nhất, thiết yếu nhất giúp cho con người tồn tại. Đó là các nhu cầu: ăn, mặc, ở, đi lại và một số nhu cầu cơ bản khác Tiếp đến là nhu cầu an toàn, nhu cầu an toàn là như cầu được ổn định, chắc chắn.