Tổng quan nghiên cứu

Ngành công nghiệp dệt may giữ vị trí huyết mạch trong nền kinh tế Việt Nam với vai trò là ngành thâm dụng lao động, tạo công ăn việc làm cho hơn 2 triệu lao động và là ngành mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn thứ hai cả nước. Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam đạt 7,78 tỷ USD, tăng trưởng 33,36% so với năm 2006 và chiếm 16,02% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn quốc. Sau sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 11/01/2007, ngành dệt may phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt từ các cường quốc dệt may như Trung Quốc (vốn chiếm 25% thị phần tại Hoa Kỳ) trong khi thị phần của Việt Nam chỉ đạt hơn 3%.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là xác định và làm rõ nội dung, phương thức tác động của Nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu dệt may trong bối cảnh các công cụ bảo hộ truyền thống (thuế quan, trợ cấp trực tiếp, hạn ngạch) phải cắt giảm theo cam kết quốc tế. Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận kinh tế chính trị về vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước, đánh giá thực trạng chính sách hỗ trợ xuất khẩu giai đoạn 1998 - 2008, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả can thiệp vĩ mô của Nhà nước đến năm 2015, tầm nhìn 2020.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào toàn bộ hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam tại các thị trường trọng điểm như Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu (EU), Nhật Bản. Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp cơ sở khoa học để tối ưu hóa quy hoạch ngành, hướng tới mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu 12 tỷ USD vào năm 2010 và 18 tỷ USD vào năm 2015 theo Quyết định số 36/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận vấn đề nghiên cứu dựa trên sự kết hợp giữa các học thuyết kinh tế cổ điển, trường phái trọng thương và lý thuyết kinh tế vĩ mô hiện đại. Thuyết Lợi thế tuyệt đối của Adam Smith (năm 1776) và Thuyết Lợi thế so sánh của David Ricardo khẳng định rằng thương mại quốc tế giúp các quốc gia tối ưu hóa nguồn lực sản xuất thông qua chuyên môn hóa các mặt hàng có hiệu quả tương đối cao. Đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, lợi thế so sánh ban đầu nằm ở chi phí lao động dồi dào và suất đầu tư chỗ làm việc thấp (khoảng 1.000 USD/lao động ngành may và 15.000 USD/lao động ngành dệt).

Bên cạnh đó, lý thuyết kinh tế học của John Maynard Keynes về vai trò điều tiết của Nhà nước khẳng định rằng kinh tế thị trường không thể tự điều chỉnh hoàn hảo; sự hiện diện của "bàn tay hữu hình" thông qua chính sách tài khóa, tiền tệ và thể chế ngoại thương là tất yếu để khắc phục thất bại thị trường. Khung phân tích vận dụng 4 khái niệm then chốt: quản lý nhà nước về kinh tế đối ngoại, các hình thức xuất khẩu (xuất khẩu trực tiếp, ủy thác, gia công quốc tế CMT, xuất khẩu FOB), công cụ điều tiết thương mại (thuế quan, hạn ngạch quota, rào cản kỹ thuật TBT) và chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xuất khẩu (tỷ trọng giá trị gia tăng, mức độ đa dạng hóa thị trường).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phân tích - tổng hợp, thống kê mô tả và so sánh kinh tế học. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập đồng bộ từ Tổng cục Thống kê, Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS), Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex) và số liệu Hải quan Hoa Kỳ trong giai đoạn 10 năm từ 1998 đến nửa đầu năm 2008.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ chuỗi số liệu vĩ mô của hơn 2.000 doanh nghiệp dệt may trên toàn quốc, kết hợp phân tích sâu mẫu đại diện gồm 150 doanh nghiệp hạt nhân (chiếm trên 60% năng lực sản xuất toàn ngành, phân bổ tại 3 miền Bắc - Trung - Nam). Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm bao quát các loại hình sở hữu: doanh nghiệp nhà nước thuộc Vinatex, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Phương pháp phân tích lịch sử kết hợp logic được lựa chọn vì cho phép đánh giá chính xác tác động của các mốc chính sách then chốt như Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ (BTA năm 2001), Quyết định 55/2001/QĐ-TTg và dấu mốc gia nhập WTO năm 2007.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô xuất khẩu dệt may Việt Nam tăng trưởng vượt bậc nhưng mức độ tập trung thị trường tiềm ẩn nhiều rủi ro. Kim ngạch xuất khẩu đã tăng từ 1,162 tỷ USD năm 2000 lên 7,78 tỷ USD năm 2007 (tăng gần 7 lần trong 7 năm). Tốc độ tăng trưởng kim ngạch đạt mức cao nhất vào năm 2002 (38,30%) và duy trì mức tăng 33,36% trong năm 2007. Về cơ cấu thị trường năm 2007, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất chiếm 56% tổng kim ngạch (tương đương 4,4 - 4,5 tỷ USD), tiếp theo là EU chiếm 18% (1,4 - 1,5 tỷ USD) và Nhật Bản chiếm 9% (trên 700 triệu USD).

Thứ hai, mô hình sản xuất vẫn chủ yếu dựa vào phương thức gia công quốc tế (CMT) với giá trị gia tăng thấp. Doanh nghiệp dệt may trong nước phải nhập khẩu tới 70 - 80% nguyên phụ liệu (vải, sợi bông, hóa chất, phụ liệu may), khiến tỷ suất lợi nhuận thực tế chỉ đạt từ 5% đến 8% trên giá trị đơn hàng. Thời gian thu hồi vốn của ngành dệt kéo dài từ 12 đến 15 năm, trong khi ngành may chỉ mất từ 5 đến 7 năm, dẫn đến hiện tượng mất cân đối đầu tư nghiêm trọng giữa khâu dệt - nhuộm hoàn tất và khâu may xuất khẩu.

Thứ ba, hệ thống chính sách của Nhà nước đã có bước tiến lớn nhưng khâu thực thi còn nhiều điểm nghẽn. Việc bãi bỏ chế độ cấp hạn ngạch quota từ sau năm 2005 và thành lập Tổ kiểm tra cơ động hàng dệt may xuất khẩu liên ngành đã giảm bớt chi phí phi chính thức cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, thủ tục hải quan và kiểm tra chuyên ngành vẫn còn phức tạp, khiến thời gian thông quan kéo dài hơn so với các đối thủ trong khu vực từ 3 đến 5 ngày. Dữ liệu trên được hệ thống hóa trực quan qua Bảng kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2000 - 2008 và Biểu đồ phân bổ tỷ trọng vốn đầu tư, thể hiện rõ nét sự chênh lệch cơ cấu giữa các phân ngành.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng xuất khẩu tăng về lượng nhưng chậm về chất bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ trong việc hiện thực hóa các chiến lược phát triển ngành. Mặc dù Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 55/2001/QĐ-TTg về Chiến lược tăng tốc phát triển ngành Dệt May, việc quy hoạch các khu công nghiệp tập trung có hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn cho khâu dệt nhuộm gần như chưa đạt chỉ tiêu đề ra.

So sánh với các quốc gia xuất khẩu hàng đầu như Trung Quốc và Ấn Độ, các nước này đã sớm xây dựng chuỗi cung ứng khép kín từ khâu trồng bông, kéo sợi đến may mặc hoàn tất, giúp họ chủ động 85 - 90% nguyên liệu tại chỗ. Trong khi đó, hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ sau khi gia nhập WTO vẫn phải chịu mức thuế suất trung bình khoảng 15%, không có được lợi thế thuế quan 0% như Mexico hay Canada. Do đó, vai trò của Nhà nước không thể dừng lại ở việc đàm phán mở cửa thị trường mà phải trực tiếp kiến tạo môi trường kinh doanh, thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ để giải quyết nút thắt nguyên phụ liệu.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện hành lang pháp lý và đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính. Bộ Tài chính phối hợp cùng Tổng cục Hải quan triển khai toàn diện hệ thống hải quan điện tử "một cửa", cắt giảm 30% đến 40% thời gian thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu trước năm 2010. Xóa bỏ hoàn toàn các rào cản bảo hộ không phù hợp với quy định WTO, chuyển đổi linh hoạt sang các biện pháp tự vệ kỹ thuật (TBT, SPS) phù hợp với chuẩn mực quốc tế.

Thứ hai, đẩy mạnh đầu tư phát triển công nghiệp phụ trợ và nguồn nguyên phụ liệu. Bộ Công Thương chỉ đạo Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex) làm nòng cốt liên doanh, liên kết xây dựng 2 Trung tâm cung ứng nguyên phụ liệu dệt may quy mô lớn tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trước năm 2010. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm dệt may từ mức 30% năm 2007 lên 50% vào năm 2010 và đạt 60% vào năm 2015 thông qua việc ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cho các dự án dệt thoi, dệt kim và xử lý môi trường dệt nhuộm.

Thứ ba, đổi mới khoa học công nghệ và kiểm định chất lượng sản phẩm. Bộ Khoa học và Công nghệ cùng các viện nghiên cứu chuyên ngành chuyển đổi mô hình sang tự chủ tài chính; hỗ trợ kinh phí xây dựng Phòng thí nghiệm sinh thái dệt may và Trung tâm phát triển mẫu vải giai đoạn 2008 - 2010. Thiết lập cơ sở dữ liệu số hóa về công nghệ ngành dệt may nhằm hỗ trợ 100% doanh nghiệp xuất khẩu tiếp cận thông tin về quy chuẩn an toàn hóa chất của thị trường EU và Hoa Kỳ.

Thứ tư, nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường. Bộ Công Thương phối hợp với cơ quan Thương vụ tại nước ngoài tổ chức các chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm, hướng tới mục tiêu duy trì thị phần 55% tại Hoa Kỳ, 18% tại EU, đồng thời gia tăng kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường ngách như Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và các nước láng giềng. Phấn đấu đưa toàn ngành đạt tốc độ tăng trưởng xuất khẩu 20%/năm trong giai đoạn 2008 - 2010, đưa kim ngạch cán mốc 12 tỷ USD vào năm 2010 và 18 tỷ USD vào năm 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính. Luận văn cung cấp khung phân tích thực tiễn và căn cứ khoa học để hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch vùng nguyên liệu và thiết kế các gói chính sách hỗ trợ xuất khẩu phi trợ cấp trực tiếp.

Nhóm 2: Ban lãnh đạo Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex) và các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may. Tài liệu giúp doanh nghiệp nắm rõ bức tranh thị trường quốc tế, nhận diện các rào cản thương mại mới, từ đó chủ động chuyển đổi mô hình kinh doanh từ gia công CMT sang phương thức FOB/ODM nhằm nâng cao biên lợi nhuận.

Nhóm 3: Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học thuộc các khối ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế quốc tế, Thương mại quốc tế. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận đánh giá vai trò kinh tế của Nhà nước trong thời kỳ chuyển đổi và hội nhập WTO.

Nhóm 4: Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS) và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI). Báo cáo giúp các tổ chức nghề nghiệp xây dựng chương trình xúc tiến thương mại hiệu quả, nâng cao năng lực cảnh báo sớm về các vụ kiện chống bán phá giá và rào cản kỹ thuật.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao vai trò của Nhà nước đối với xuất khẩu dệt may phải thay đổi sau khi Việt Nam gia nhập WTO?

Khi gia nhập WTO, Việt Nam cam kết bãi bỏ hoàn toàn các hình thức trợ cấp xuất khẩu trực tiếp và hạn ngạch dệt may. Nhà nước không thể duy trì cơ chế bảo hộ hành chính truyền thống mà phải chuyển sang vai trò kiến tạo thông qua cải cách thể chế, hỗ trợ gián tiếp về hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực và xúc tiến thương mại theo đúng thông lệ quốc tế.

2. Phương thức xuất khẩu nào mang lại giá trị kinh tế cao nhất cho doanh nghiệp dệt may?

Phương thức sản xuất trọn gói mua đứt bán đoạn (FOB) và tự thiết kế sản xuất (ODM) mang lại giá trị gia tăng cao hơn nhiều so với hình thức gia công thuần túy (CMT). Chuyển dịch từ CMT sang FOB giúp doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên liệu, nâng cao biên lợi nhuận từ mức 5% lên trên 15 - 20% giá trị đơn hàng.

3. Đâu là điểm nghẽn lớn nhất của ngành dệt may Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2008?

Điểm nghẽn lớn nhất là sự phát triển manh mún của công nghiệp phụ trợ. Doanh nghiệp dệt may trong nước phải nhập khẩu tới 70 - 80% nguyên phụ liệu, khiến giá thành sản phẩm phụ thuộc lớn vào biến động giá thế giới và làm giảm tính cạnh tranh về thời gian giao hàng so với đối thủ Trung Quốc.

4. Cơ cấu thị trường xuất khẩu dệt may giai đoạn này tiềm ẩn rủi ro gì?

Rủi ro lớn nhất là sự phụ thuộc quá mức vào thị trường Hoa Kỳ (chiếm tới 56% kim ngạch, đạt 4,4 - 4,5 tỷ USD năm 2007) và EU (18%). Khi các nền kinh tế này xảy ra biến động suy thoái kinh tế hoặc áp dụng các chương trình giám sát chống bán phá giá, toàn bộ hoạt động sản xuất trong nước sẽ bị tác động tiêu cực ngay lập tức.

5. Nhà nước cần ưu tiên công cụ nào để hỗ trợ công nghiệp phụ trợ dệt may?

Nhà nước cần ưu tiên quy hoạch các khu công nghiệp dệt may tập trung có hệ thống xử lý chất thải hiện đại, áp dụng chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và cung cấp tín dụng đầu tư ưu đãi dài hạn cho các dự án sản xuất sợi, vải dệt thoi có thời gian hoàn vốn từ 12 đến 15 năm.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận kinh tế chính trị về tính tất yếu của việc tăng cường vai trò điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với xuất khẩu dệt may trong kỷ nguyên hội nhập WTO.
  • Đánh giá toàn diện bức tranh xuất khẩu dệt may giai đoạn 1998 - 2008 với kim ngạch tăng trưởng từ 1,162 tỷ USD năm 2000 lên 7,78 tỷ USD năm 2007, đồng thời chỉ rõ sự mất cân đối giữa khâu may gia công và công nghiệp dệt nhuộm phụ trợ.
  • Phân tích sâu sắc bài học kinh nghiệm quản lý xuất khẩu dệt may từ các quốc gia đi trước như Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan để vận dụng linh hoạt vào bối cảnh thực tế của Việt Nam.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá về thể chế, đầu tư công nghiệp hỗ trợ, phát triển khoa học công nghệ và xúc tiến thương mại nhằm hiện thực hóa mục tiêu kim ngạch 12 tỷ USD năm 2010 và 18 tỷ USD năm 2015.
  • Kêu gọi sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan quản lý nhà nước, Hiệp hội VITAS và cộng đồng doanh nghiệp nhằm chuyển đổi nhanh chóng từ phương thức gia công sang xuất khẩu FOB/ODM, xây dựng ngành dệt may Việt Nam phát triển hiện đại và bền vững.