Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Thương mại (mã số 62.01) của nghiên cứu sinh Vũ Dương Hòa, được thực hiện tại Viện Nghiên cứu Thương mại dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Võ Phước Tấn và TS. Phạm Ngọc Hải, hoàn thành năm 2017, tập trung giải quyết bài toán nâng cao năng lực cạnh tranh cho khối doanh nghiệp nhỏ và vừa trong ngành dệt may Việt Nam.

Tính cấp thiết của đề tài được tác giả xác định dựa trên mâu thuẫn thực tiễn giữa quy mô phát triển và chất lượng tăng trưởng của ngành dệt may Việt Nam trong giai đoạn 2005 – 2015. Theo số liệu trong văn bản, giá trị sản xuất toàn ngành đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 13,64%/năm, kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 18,61%/năm. Đến năm 2015, kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt 22,8 tỷ USD, chiếm 14,06% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, đưa Việt Nam vào tốp 5 quốc gia xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới với 3,8% thị phần toàn cầu. Tuy nhiên, giá trị gia tăng của các sản phẩm may mặc Việt Nam vẫn ở mức thấp; tỷ suất lợi nhuận trong khâu gia công thuần túy chỉ dao động quanh mức 5 – 8%. Ngành công nghiệp sản xuất và thời trang Việt Nam chỉ được tổ chức BMI (2012) xếp vào nhóm trung bình trên thế giới do tính liên kết giữa các mắt xích trong chuỗi giá trị chưa bền vững.

Khoảng trống thực tiễn cốt lõi nằm ở cơ cấu doanh nghiệp: toàn ngành có gần 6.800 doanh nghiệp nhưng phần lớn là các đơn vị có quy mô siêu nhỏ hoặc nhỏ, nguồn vốn yếu, cơ sở sản xuất phân tán, hạn chế về năng lực huy động vốn để đổi mới máy móc trang thiết bị và chưa đạt được hiệu quả kinh tế nhờ quy mô. Khi thị trường tiêu thụ quốc tế biến động, các doanh nghiệp này gặp nhiều trở ngại trong việc chuyển đổi phương thức thâm nhập thị trường hoặc tiếp cận các thị trường mới.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm rõ các vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dệt may nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa dệt may Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống định hướng và giải pháp phục vụ chiến lược phát triển ngành.

Đối tượng nghiên cứu là doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành dệt may và năng lực cạnh tranh của nhóm doanh nghiệp này trong mối quan hệ với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể như sau:

  • Về thời gian: Tập trung khảo sát, thu thập và phân tích dữ liệu thực tế giai đoạn 2010 – 2014.
  • Về không gian: Giới hạn trong phạm vi các doanh nghiệp nhỏ và vừa sản xuất may mặc trên phạm vi cả nước; không nghiên cứu lĩnh vực kéo sợi và dệt vải độc lập.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản phân định thành bốn nội dung chính:

  1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa dệt may.
  2. Nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia dệt may lớn (Trung Quốc, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ) về việc nâng cao năng lực cạnh tranh của khối doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa để rút ra các bài học tham vấn cho Việt Nam.
  3. Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa dệt may Việt Nam giai đoạn 2010 – 2014, xác định các thành tựu, hạn chế và chỉ rõ các yếu tố tác động trực tiếp làm suy giảm năng lực cạnh tranh.
  4. Xác lập các quan điểm, định hướng, đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh và đưa ra các khuyến nghị chính sách đối với cơ quan quản lý Nhà nước và Bộ Công Thương.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã điểm lại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan trực tiếp đến đề tài, phân định thành hai nhóm chính:

Các công trình nghiên cứu trong nước:

  • Nguyễn Thắng (2013), trong nghiên cứu “Nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa”, đã khái quát thực trạng yếu kém của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam và đề xuất các giải pháp liên kết, hình thành khu, cụm công nghiệp để tạo lợi thế cạnh tranh.
  • Hà Phạm (2013), với đề tài “Xây dựng năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt”, tập trung phân tích tổng thể năng lực cạnh tranh của khối doanh nghiệp nội địa và đề xuất khuyến nghị cho các nhà quản trị doanh nghiệp.
  • Nguyễn Hoàng (2009), với luận án tiến sĩ “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu vào thị trường các nước EU của doanh nghiệp dệt may VN trong giai đoạn hiện nay”, xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh xuất khẩu sang EU, chỉ rõ hạn chế về công nghiệp hỗ trợ, nhân lực và công nghệ lạc hậu của doanh nghiệp dệt may.
  • Nguyễn Thế (2009), trong bài viết “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong hội nhập kinh tế quốc tế”, phân tích các nguyên nhân suy giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam từ góc độ trình độ lao động, khả năng tiếp cận vốn tín dụng và công nghệ máy móc.
  • Trần Cảnh Toàn và Trần Nguyên Nam (2006), với đề tài nghiên cứu cấp Bộ “Hoàn thiện chính sách tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức tín dụng Việt Nam”, tập trung vào khía cạnh chính sách tài chính tác động đến khả năng cạnh tranh.
  • Nguyễn Thanh Vân (2005), với luận án tiến sĩ “Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường Dệt May Việt Nam đến 2010”, phân tích nguyên nhân phát triển thiếu bền vững do phụ thuộc lớn vào phương thức gia công cho đối tác nước ngoài, vốn mỏng, mẫu mã đơn giản.
  • Thân Danh Phúc (2004), trong luận án tiến sĩ “Nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm Dệt May xuất khẩu Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế”, đánh giá nội lực sản phẩm may mặc xuất khẩu Việt Nam so sánh với các quốc gia cạnh tranh, nhấn mạnh sự cần thiết chuyển dịch sang phương thức sản xuất FOB và phát triển thiết kế mẫu.

Các công trình nghiên cứu ngoài nước:

  • Mohd Rosli (2012), với nghiên cứu “Competitive Strategy of Malaysian Small and Medium Enterprises”, phân tích các chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Malaysia khi đối mặt với cạnh tranh toàn cầu, nhấn mạnh vai trò liên kết doanh nghiệp và hỗ trợ tín dụng, thuế của chính phủ.
  • Báo cáo chương trình Danida của Đan Mạch (2011) với chủ đề “Business-to-Business (B2B)”, phân tích năng lực cạnh tranh và nhận diện 7 nguyên nhân khiến doanh nghiệp dệt may Việt Nam khai thác thị trường quốc tế chưa hiệu quả.
  • Nguyễn Phúc Hiền (2008), trong luận án tiến sĩ “National competitiveness of Vietnam: determinations, emerging key issues and recommendations”, so sánh năng lực cạnh tranh của Việt Nam với các nước châu Á và chứng minh vai trò quyết định của chất lượng nhân lực trong sản xuất đối với việc cải thiện năng suất lao động.
  • Báo cáo “Measuring the Competitive Advantage of the US Textile and Apparel Industry” (Boston, MA, 2008), tập trung đo lường lợi thế cạnh tranh của ngành công nghiệp dệt may Hoa Kỳ trong bối cảnh thương mại toàn cầu.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án nhận diện: Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận năng lực cạnh tranh ở cấp độ quốc gia, cấp độ toàn ngành, nhóm sản phẩm xuất khẩu, hoặc tập trung vào các ngành khác như cơ khí, bưu chính viễn thông, tín dụng. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên biệt, có hệ thống về năng lực cạnh tranh của riêng khối doanh nghiệp nhỏ và vừa dệt may Việt Nam. Cụ thể, các nghiên cứu trước chưa xây dựng bộ tiêu chí đánh giá kết hợp định tính và định lượng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa may mặc, chưa đúc rút bài học kinh nghiệm quốc tế gắn riêng với đặc thù của nhóm doanh nghiệp này và chưa đề xuất hệ thống giải pháp gắn với bối cảnh thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về mặt lý luận, luận án tiếp cận khái niệm cạnh tranh thông qua việc đối chiếu trường phái cổ điển (Adam Smith, John Stuart Mill, Charles Darwin, Karl Marx) và trường phái hiện đại (tiếp cận tổ chức ngành của trường phái Chicago và Harvard; tiếp cận tâm lý học của Carl Menger, Ludwig von Mises, Joseph Schumpeter, Friedrich Hayek thuộc học phái Áo; tiếp cận cạnh tranh hoàn hảo của Tân cổ điển). Luận án kế thừa quan điểm của Michael Porter về lợi thế cạnh tranh bền vững (chiến lược chi phí thấp, khác biệt hóa, tập trung) và cấu trúc ngành; kết hợp với lý thuyết nguồn lực doanh nghiệp của Robert M. Grant (1991) phân chia nguồn lực nội bộ thành nhóm hữu hình (tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật) và nhóm vô hình (công nghệ, danh tiếng thương hiệu, kỹ năng nhân sự). Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa được căn cứ chuẩn xác theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ, xác định theo quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân năm dưới 200 người.

Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng khung phân tích năng lực cạnh tranh dành riêng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành dệt may gồm 9 nhóm chỉ số thành phần:

Nhóm chỉ số Các chỉ số thành phần cụ thể
1. Năng lực tài chính Tăng trưởng doanh thu, tăng trưởng lợi nhuận; Tỷ suất lợi nhuận; Tăng trưởng thị phần.
2. Năng lực quản lý và điều hành Khả năng phân tích đối thủ cạnh tranh; Phân tích và dự báo môi trường kinh doanh; Năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện chiến lược.
3. Tài sản vô hình của doanh nghiệp Khả năng nâng cao thương hiệu và uy tín doanh nghiệp; Khả năng nâng cao thương hiệu về sản phẩm, dịch vụ trên thị trường.
4. Trình độ trang thiết bị và công nghệ Năng lực về công nghệ; Khả năng ứng dụng khoa học công nghệ vào sản phẩm, dịch vụ; Khả năng và tốc độ đổi mới công nghệ; Mức độ hiện đại của công nghệ đang sử dụng.
5. Năng lực Marketing Năng lực nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ; Khả năng giảm giá bán; Khả năng phân phối và xúc tiến hỗn hợp.
6. Cơ cấu tổ chức Độ linh hoạt trong tổ chức, đổi mới sản xuất; Mức độ chuyên môn hóa trong sản xuất.
7. Nguồn nhân lực Đánh giá năng lực lao động; Động lực đối với người lao động.
8. Năng lực đầu tư R&D Phương tiện và thiết bị dành cho hoạt động R&D; Nguồn nhân lực dành cho R&D.
9. Năng lực hợp tác trong nước và quốc tế Khả năng liên doanh, liên kết, hợp tác trong nước; Khả năng hợp tác quốc tế trong mở rộng thị trường.

Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp cách tiếp cận nghiên cứu hỗn hợp:

  • Phương pháp định tính: Sử dụng kỹ thuật phân tích tổng hợp tài liệu thứ cấp, văn bản pháp luật, báo cáo tổng kết của ngành; sử dụng phương pháp chuyên gia và ứng dụng ma trận SWOT (Marion Dosher, Otis Benepe, Albert Humphrey, Robert F. Stewart, Birger Lie, 1970) để đối sánh điểm mạnh, điểm yếu nội tại với cơ hội và thách thức từ môi trường vĩ mô.
  • Phương pháp định lượng: Thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua điều tra khảo sát thực tế bằng bảng hỏi. Quy mô khảo sát gồm 300 phiếu phát ra, thu về 285 phiếu trả lời hợp lệ; đối tượng khảo sát gồm các nhà quản lý doanh nghiệp và các khách hàng sử dụng sản phẩm của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành dệt may. Dữ liệu khảo sát được thống kê, xử lý để đánh giá mức độ đáp ứng theo 9 nhóm tiêu chí và thực hiện so sánh năng lực cạnh tranh giữa khối doanh nghiệp nhỏ và vừa với hai nhóm đối thủ cạnh tranh chính là doanh nghiệp dệt may quy mô lớn trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
  • Nguồn tư liệu: Kế thừa số liệu thống kê từ Niên giám thống kê, báo cáo của Bộ Công Thương, Tập đoàn Dệt May Việt Nam (VINATEX), Tổ chức Giám sát Kinh doanh Quốc tế (BMI, 2012), Tradeup (2014), Ủy ban châu Âu (2014), Viện Phát triển doanh nghiệp thuộc VCCI (2015).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành Dệt May

Chương 1 hệ thống hóa khung lý luận nền tảng về cạnh tranh, xác lập đặc thù kinh tế - kỹ thuật của ngành dệt may và khối doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời đề xuất mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh và phân tích kinh nghiệm quốc tế.

Tác giả luận giải đặc tính kinh tế của ngành may mặc: đây là ngành thâm dụng lao động giản đơn, vốn đầu tư ban đầu thấp nhưng tỷ lệ hoàn vốn nhanh so với nhiều ngành công nghiệp khác. Văn bản cung cấp các số liệu so sánh kinh tế - kỹ thuật cụ thể:

  • Suất đầu tư để tạo ra một chỗ làm việc mới trong ngành may chỉ khoảng 1.000 USD; trong khi ngành dệt đòi hỏi 15.000 USD, và ngành sản xuất giấy lên tới gần 30.000 USD. So với các ngành công nghiệp nặng, suất đầu tư ngành may chỉ bằng 1/10 ngành điện, 1/15 ngành cơ khí và 1/20 ngành luyện kim.
  • Thời gian thu hồi vốn đầu tư của ngành may từ 5 đến 7 năm; ngắn hơn đáng kể so với ngành dệt (12 đến 15 năm) và các ngành công nghiệp luyện thép (trên 15 năm đến vài chục năm).
  • Về công nghiệp phụ trợ, tác giả phân chia rõ ba giai đoạn sản xuất với các yêu cầu phụ trợ tương ứng: giai đoạn kéo sợi và dệt vải (phụ tùng cơ khí dệt, chi tiết không gia công cơ khí như ống giấy/ống nhựa, hóa chất hồ vải); giai đoạn nhuộm, in hoa và hoàn tất (thuốc nhuộm hữu cơ, hóa chất cơ bản, chế phẩm sinh học); giai đoạn may mặc và thời trang (phụ liệu may như chỉ, bông tấm, khuy cúc, mex, khóa kéo; phụ kiện bao gói PE, PP, nhãn mác; gá lắp thiết bị chuyên dùng).

Về kinh nghiệm quốc tế, chương 1 phân tích trường hợp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO ngày 11/12/2001 và sự kiện Hiệp định Hàng dệt may (ATC) hết hiệu lực năm 2005 bãi bỏ chế độ hạn ngạch. Năm 2005, doanh thu dệt may Trung Quốc đạt 250 tỷ USD, lợi nhuận 66 tỷ Nhân dân tệ, kim ngạch xuất khẩu đạt 116 tỷ USD (trong tháng 1/2005 xuất khẩu sang EU tăng 47%, sang Mỹ tăng 56,8% chiếm 23,7% thị phần). Kinh nghiệm Trung Quốc cho thấy sự can thiệp có định hướng của Nhà nước thông qua việc tái cấu trúc các doanh nghiệp nhà nước thua lỗ, thúc đẩy tư nhân hóa và tạo lập các tập đoàn sản xuất nguyên liệu dệt quy mô lớn để hỗ trợ chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Luận án cũng điểm qua kinh nghiệm phát triển của Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ làm cơ sở tham vấn chính sách cho Việt Nam.

Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Dệt May Việt Nam

Chương 2 phản ánh bức tranh thực trạng ngành dệt may Việt Nam và đi sâu đánh giá năng lực cạnh tranh của khối doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua số liệu thứ cấp giai đoạn 2010 – 2014 và kết quả điều tra thực chứng 285 mẫu phiếu.

Về thực trạng sản xuất và xuất khẩu: Ngành dệt may giữ vai trò chủ lực trong tạo việc làm và xuất khẩu nhưng giá trị thu về ở khâu gia công còn thấp. Cơ cấu doanh nghiệp bất hợp lý khi phần lớn doanh nghiệp tập trung ở khâu may cắt, trong khi khâu dệt, nhuộm và công nghiệp phụ trợ phát triển chậm, tạo ra điểm nghẽn về nguyên phụ liệu.

Về năng suất lao động: Số liệu thống kê tại Bảng 2.6 và Hình 2.3 trong văn bản chỉ ra năng suất lao động ngành dệt may Việt Nam còn thấp khi so sánh với công nghiệp chế biến chế tạo cả nước cũng như các quốc gia trong khu vực. Khi so sánh năng suất lao động sản xuất trên nền sợi cotton, Việt Nam xếp sau Trung Quốc và Ấn Độ do mức độ cơ giới hóa, tự động hóa và trình độ tay nghề kỹ thuật của lao động chưa đồng đều.

Về năng lực nội tại của doanh nghiệp nhỏ và vừa:

  • Năng lực tài chính: Bảng 2.7 phản ánh các doanh nghiệp nhỏ và vừa có tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và vốn chủ sở hữu ở mức khiêm tốn; khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức từ ngân hàng thương mại còn gặp nhiều rào cản do thiếu tài sản bảo đảm.
  • Lực lượng lao động: Bảng 2.8 và Hình 2.5 cho thấy thực trạng lực lượng lao động của doanh nghiệp nhỏ và vừa dệt may giai đoạn 2010 – 2014 tập trung phần lớn là lao động phổ thông, tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật hoặc có trình độ đại học, cao đẳng chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu lao động năm 2014.
  • Kết quả khảo sát thực tế (Bảng 2.9 và 2.10): Đánh giá so sánh chỉ rõ doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam yếu thế hơn hẳn so với khối doanh nghiệp quy mô lớn trong nước và khối doanh nghiệp FDI trên hầu hết các chỉ tiêu: quy mô vốn, công nghệ máy móc, khả năng nghiên cứu thiết kế mẫu (R&D), năng lực marketing và thương hiệu. Ưu thế tương đối duy nhất của nhóm này là tính linh hoạt trong cơ cấu tổ chức và khả năng thích ứng với các đơn hàng nhỏ, thời gian giao hàng gấp.

Về ma trận SWOT (Bảng 2.11): Tác giả tổng kết điểm mạnh (tính linh hoạt, chi phí nhân công cạnh tranh), điểm yếu (vốn mỏng, thiết bị cũ, thiếu liên kết chuỗi, phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu), cơ hội (mở rộng thị trường từ các hiệp định thương mại như TPP, FTA) và thách thức (áp lực cạnh tranh gay gắt từ doanh nghiệp FDI, rào cản kỹ thuật khắt khe từ thị trường nhập khẩu Mỹ, EU, Nhật Bản).

Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNVV Dệt May Việt Nam

Chương 3 trình bày các căn cứ định hướng, dự báo nhu cầu nguồn nhân lực (Bảng 3.1) và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho khối doanh nghiệp nhỏ và vừa dệt may trong bối cảnh thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Đẩy mạnh liên doanh, liên kết: Tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa với các doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài nhằm tranh thủ nguồn vốn đầu tư trực tiếp, tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật quản lý và nâng cao tiềm lực tài chính.
  2. Chủ động nguồn nguyên liệu sản xuất: Tháo gỡ nút thắt về nguyên phụ liệu nhằm đáp ứng các quy tắc xuất xứ nghiêm ngặt (như quy tắc xuất xứ "từ sợi trở đi" trong hiệp định TPP), giảm phụ thuộc vào nguồn vải nhập khẩu thông qua việc hình thành mạng lưới cung ứng trong nước.
  3. Phát triển nguồn nhân lực bền vững: Xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao dài hạn, bao gồm đội ngũ thiết kế mẫu, kỹ thuật chuyền may và cán bộ quản trị doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu công nghệ mới.
  4. Cải thiện môi trường sản xuất kinh doanh: Đề xuất các cơ chế ưu đãi về nguồn vốn tín dụng đầu tư đổi mới công nghệ; miễn giảm thuế nhập khẩu nguyên phụ liệu tạo mẫu; quy hoạch mặt bằng và ưu đãi giá thuê nhà xưởng tại các cụm công nghiệp tập trung.
  5. Nâng cao năng lực Marketing: Chuyển dịch dần từ phương thức gia công đơn thuần (CMT) sang các phương thức sản xuất mang lại giá trị gia tăng cao hơn như FOB, ODM; đẩy mạnh xúc tiến thương mại điện tử B2B và xây dựng thương hiệu sản phẩm may mặc độc lập.

Khuyến nghị vĩ mô:

  • Kiến nghị với Nhà nước: Hoàn thiện khung khổ pháp lý, cải cách thủ tục hành chính, thành lập các quỹ bảo lãnh tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn ưu đãi; quy hoạch hạ tầng công nghiệp xử lý nước thải dệt nhuộm để hỗ trợ công nghiệp phụ trợ.
  • Kiến nghị với Bộ Công Thương: Đẩy mạnh các hoạt động cung cấp thông tin thị trường xuất khẩu, hướng dẫn thực thi các cam kết thương mại quốc tế và tăng cường năng lực cảnh báo sớm về các rào cản kỹ thuật tại các thị trường nhập khẩu lớn.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định bốn đóng góp mới về mặt học thuật và thực tiễn:

  1. Hệ thống hóa và bổ sung cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa; đề xuất bộ tiêu chí gồm 9 nhóm chỉ số chuyên biệt phù hợp với đặc thù kinh tế - kỹ thuật của các doanh nghiệp sản xuất may mặc quy mô nhỏ và vừa.
  2. Phân tích kinh nghiệm thực tiễn từ các quốc gia phát triển dệt may hàng đầu thế giới (Trung Quốc, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ), rút ra các bài học tham vấn có giá trị ứng dụng cho các doanh nghiệp và cơ quan hoạch định chính sách tại Việt Nam.
  3. Cung cấp bức tranh thực trạng toàn diện về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa may mặc Việt Nam giai đoạn 2010 – 2014 trên cơ sở dữ liệu thứ cấp và dữ liệu điều tra thực chứng 285 mẫu; chỉ rõ khoảng cách cạnh tranh giữa nhóm doanh nghiệp này với doanh nghiệp quy mô lớn và doanh nghiệp FDI.
  4. Xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh mang tính trọng tâm, gắn kết trực tiếp với các điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và các hiệp định tự do thương mại thế hệ mới; đồng thời đưa ra các khuyến nghị chính sách cụ thể đối với Nhà nước và Bộ Công Thương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Về phạm vi không gian: Luận án chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc khâu sản xuất may mặc; không bao quát các đơn vị thuộc khâu kéo sợi, dệt vải và hoàn tất trong chuỗi cung ứng dệt may.
  • Về phạm vi thời gian: Khảo sát thực trạng dừng lại ở chuỗi số liệu giai đoạn 2010 – 2014, chưa phản ánh đầy đủ tác động thực tế của các hiệp định thương mại tự do sau giai đoạn này.
  • Về mô hình: Khi vận dụng mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter, tác giả đã chủ động lược bỏ việc phân tích mức độ cạnh tranh nội bộ giữa các doanh nghiệp trong ngành để tập trung vào việc so sánh giữa khối doanh nghiệp nhỏ và vừa với các nhóm đối thủ chính bên ngoài.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang toàn bộ các khâu trong chuỗi giá trị dệt may, bao gồm công nghiệp dệt, nhuộm và công nghiệp sản xuất phụ liệu may.
  • Đánh giá tác động thực tế của việc thực thi các cam kết thương mại tự do thế hệ mới (như CPTPP, EVFTA) lên năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp may mặc trong giai đoạn sau năm 2015.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành phục vụ cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên thuộc các chuyên ngành Thương mại, Kinh tế phát triển, Quản trị kinh doanh: có thể khai thác khung lý thuyết 9 nhóm tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh doanh nghiệp nhỏ và vừa và phương pháp thiết kế mẫu khảo sát thực tế.
  • Các nhà quản trị doanh nghiệp nhỏ và vừa dệt may: có thể ứng dụng ma trận đánh giá đối thủ cạnh tranh và bộ giải pháp về tổ chức sản xuất, chuyển đổi phương thức từ gia công sang FOB/ODM để nâng cao hiệu quả kinh doanh.
  • Các cơ quan quản lý Nhà nước (Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư) và Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS): có thêm luận cứ thực tiễn từ số liệu điều tra 285 doanh nghiệp để ban hành chính sách hỗ trợ tín dụng, quy hoạch cụm công nghiệp hỗ trợ và đào tạo nguồn nhân lực ngành may.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tốc độ tăng trưởng và vị thế của ngành dệt may Việt Nam giai đoạn 2005 – 2015 được ghi nhận như thế nào trong luận án? Theo số liệu trong văn bản, giai đoạn 2005 – 2015, tốc độ tăng trưởng bình quân năm của giá trị sản xuất dệt may đạt 13,64%, kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 18,61%/năm. Năm 2015, kim ngạch xuất khẩu đạt 22,8 tỷ USD, chiếm 14,06% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, đưa Việt Nam vào tốp 5 quốc gia xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới, chiếm 3,8% thị phần xuất khẩu dệt may toàn cầu.

  2. Quy mô mẫu khảo sát thực tế của luận án được thực hiện ra sao? Tác giả đã triển khai điều tra phỏng vấn qua bảng câu hỏi khảo sát với tổng số 300 phiếu phát ra, thu về 285 phiếu trả lời hợp lệ. Đối tượng điều tra là các nhà quản lý doanh nghiệp và các khách hàng sử dụng sản phẩm của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong ngành dệt may.

  3. Điểm khác biệt về suất đầu tư và thời gian thu hồi vốn giữa ngành may và ngành dệt được nêu trong luận án là gì? Ngành may có suất đầu tư để tạo ra một chỗ làm việc mới khoảng 1.000 USD, thời gian thu hồi vốn từ 5 đến 7 năm. Ngược lại, ngành dệt đòi hỏi công nghệ phức tạp hơn với suất đầu tư khoảng 15.000 USD cho một chỗ làm việc mới và thời gian thu hồi vốn kéo dài từ 12 đến 15 năm.

  4. Luận án đề xuất mấy nhóm chỉ số để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa dệt may? Tác giả đề xuất 9 nhóm chỉ số cụ thể gồm: (1) Năng lực tài chính; (2) Năng lực quản lý và điều hành; (3) Tài sản vô hình của doanh nghiệp; (4) Trình độ trang thiết bị và công nghệ; (5) Năng lực Marketing; (6) Cơ cấu tổ chức; (7) Nguồn nhân lực; (8) Năng lực đầu tư R&D; (9) Năng lực hợp tác trong nước và quốc tế.

  5. Những đối thủ cạnh tranh chính nào được luận án đưa vào ma trận đối sánh với doanh nghiệp nhỏ và vừa dệt may Việt Nam? Trong Chương 2, luận án tập trung so sánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa dệt may Việt Nam với hai nhóm đối thủ cạnh tranh chính trên thị trường là các doanh nghiệp dệt may trong nước có quy mô lớn và các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (DN FDI).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Dương Hòa là công trình nghiên cứu chuyên khảo về năng lực cạnh tranh của khối doanh nghiệp nhỏ và vừa trong phân ngành sản xuất may mặc Việt Nam. Tác giả đã kết hợp khung lý luận của Michael Porter, lý thuyết nguồn lực doanh nghiệp của Robert Grant với kết quả khảo sát thực tế từ 285 phiếu điều tra để chỉ rõ những hạn chế về vốn, công nghệ và lao động kỹ thuật của nhóm doanh nghiệp này giai đoạn 2010 – 2014. Hệ thống 5 nhóm giải pháp trọng tâm và các khuyến nghị chính sách đối với Bộ Công Thương trong luận án cung cấp các căn cứ khoa học hỗ trợ chuyển dịch mô hình sản xuất từ gia công thuần túy sang các phương thức tạo giá trị gia tăng cao hơn trong bối cảnh hội nhập quốc tế.