CHƯƠNG 1 T Ó N G Q U A N V Ề C Ô N G T Y T À I C H ÍN H V À N Ă N G L ự c CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CỒNG TY T À I C H ÍN H 1. K h á i q u á t v ề C ô n g ty T à i c h ín h Sự ra đời của các TCTD đóng một vai trò quan trọng trong việc khơi thông các nguôn vôn trong xã hội, từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn. Nen kinh tê càng phát triên thì các loại hình TCTD ngày càng đuợc mở rộng và trở nên đa dạng hơn, trong đó không thể không nhắc đến sự ra đời của tổ chức tài chính phi ngân hàng, đặc biệt là các Công ty Tài chính ngày càng khẳng định vị thê và vai trò của mình nhu một định chế tài chính không thể thiếu trong nền kinh tế mỗi quốc gia. Thị truờng tài chính càng phát triển thì cấu trúc tổ chức và hoạt động của các Công ty Tài chính càng đa dạng và phong phú.
Tùy theo chính sách phát triển loại hình các tổ chức tài chính và việc quy định các loại nghiệp vụ hoạt động mà các Công ty Tài chính đuợc phép thực hiện mà họ đưa ra những khái niệm và những cách diễn đạt khác nhau về Công ty Tài chính. Theo Frederich s Min Kin, Công ty Tài chính là C ô n g t y th u h ú t v ồ n b ă n g c á c h p h á t h à n h th ư ơ n g p h i ế u h o ặ c c ổ p h i ế u h o ặ c t r á i k h o á n (th ư ờ n g là c á c m ó n t i ề n n h ỏ ) đ ặ c b i ệ t t h íc h h ọ p v ớ i n h u c ầ u c ủ a c á c d o a n h n g h i ệ p v à n g ư ờ i t i ê u d ù n g [3]. Theo Nghị định số 79/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ Việt Nam về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính thì được quy định như sau: C ô n g t y T à i c h i n h ỉ à l o ạ i h ìn h t ô c h ứ c tín d ụ n g p h i n g â n h à n g , v ớ i c h ứ c n ă n g ỉà s ử d ụ n g v o n tự c ỏ , v ố n h u y đ ộ n g v à c á c n g u ồ n v ố n k h á c đ ể c h o v a y , đ ầ u tư 4 cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới một năm [8]. Việc mở rộng quy mô hoạt động và sự phát triển của các TCTD đã làm cho việc phân biệt các loại hình này trở nên khó khăn, đặc biệt giữa công ty tài chính và NHTM.
Tuy nhiên, nhìn chung các Công ty Tài chính đều có các đặc diêm cơ bản như sau: V Công ty Tài chính là một tổ chức kinh doanh chuyên nghiệp trên thị triròng tài chính, hạch toán độc lập và đuợc đăng ký kinh doanh theo pháp luật quy định; V Quy mô các Công ty Tài chính thuòng là vừa và nhỏ, không có nhiều chi nhánh nhu các NHTM; V Khác với các NHTM được hoạt động ở cả 3 lĩnh vực là nhận tiền gửi, cho vay và thực hiện nghiệp vụ thanh toán, hoạt động của các Công ty Tài chính hẹp hon và bị giới hạn ở một số khâu và mang tính chất chuyên nghiệp, đặc biệt là một số nghiệp vụ nhất định. Đặc biệt các Công ty Tài chính không được nhận tiền gửi không kỳ hạn hoặc tiền gửi dưới 1 năm, và không được thực hiện nghiệp vụ thanh toán. Tuy vậy, các Công ty Tài chính hiện nay đã khắc phục bằng việc phát triển thêm nhiều sản phẩm dịch vụ mới như dịch vụ nhận ủy thác vốn, nhận ủy thác đầu tư bao thanh toán, thu xếp vốn,. cho cả ngắn hạn, trung và dài hạn.
Những dịch vụ này đã giúp Công ty Tài chính thực hiện được các dịch vụ khác tương tự như một ngân hàng thương mại; V Xét ở khía cạnh nào đó, Công ty Tài chính sẽ chịu áp lực cạnh tranh ở mức độ thấp hơn so với ngân hàng. Trong khi ngân hàng hoạt động rộng và huy động vốn chủ yếu từ công chúng thì Công ty Tài chính huy động vốn chủ yếu từ nội bộ tập đoàn và nhóm công ty. Nó là công cụ để tập đoàn điều tiết 5 vốn và sử dụng vôn một cách có hiệu quả và thuận lợi nhất. Vì thế, rủi ro xảy ra đôi với các công ty tài chính chủ yêu là do nội bộ tập đoàn hay nhóm công ty gánh chịu, rất ít ảnh hưởng tới cộng đồng.
Khi các quan hệ kinh tế trong tập đoàn là minh bạch và tuân thủ đúng pháp luật thì khả năng xảy ra rủi ro là không lớn. Với nhũng đặc đỉêm đó, Công ty Tài chính có những vai trò cơ bản sau: V Thúc đẩy nền kinh tế phát triển, tạo vốn cho nền kinh tế; c Thúc đẩy hoạt động các TCTD mở rộng và hiện đại hóa hệ thống TCTD; V Tạo điều kiện cho việc điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương; V Là kênh dẫn vốn có tính chuyên môn hóa trong việc huy động và sử dụng các khoản vốn trung, dài hạn, phong phú thêm các dịch vụ tài chính - ngân hàng. V Hoạt động của các Công ty Tài chính rất phù họp với các hoạt động giao dịch vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. V Các Công ty Tài chính thuộc các Tập đoàn Kinh tế là công cụ để Tập đoàn điều tiết và sử dụng vốn một cách họp lý, hiệu quả và thuận lợi nhất.
Đáp ứng đủ và kịp thời nhu cầu vốn với chi phí thấp nhất. Các lĩnh vực hoạt động của Công ty Tài chính Công ty tài chính hoạt động trong một số lĩnh vực cơ bản sau: - Hoạt động huy động vốn; - Hoạt động tín dụng, bao gồm: Hoạt động cho vay; Chiết khấu, tái chiết khâu, cầm cố thương phiếu, giấy tờ có giá khác; Bảo lãnh; - Mở tài khoản và hoạt động ngân quỹ; - Các hoạt động khác, bao gồm: V Góp vôn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác. 6 ^ Đầu tư cho các dự án theo hợp đồng. s Tham gia thị trường tiền tệ.
^ Thực hiện các dịch vụ kiều hối, kinh doanh vàng. ^ Làm đại lý phát hành trái phiêu, cô phiếu và các loại giấy tờ có giá cho các doanh nghiệp. ^ Được quyền nhận ủy thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến tài chính, ngân hàng bảo hiêm và đầu tư, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của các tô chức, cá nhân theo họp đồng. ^ Cung ứng các' dịch vụ tư vấn về ngân hàng, tài chính, tiền tệ, đầu tư cho khách hàng.
^ Cung ứng dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác. NĂNG L ự c CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CỒNG TY TÀI CHÍNH 1. Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của Công ty Tài chính 1. Khái niệm cạnh tranh Theo Mark cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tránh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật điều kiện thuận lợi trong sản xuât và mua bản hàng hóa đê thu được lợi nhuận siêu ngạch”.
Cạnh tranh là một quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hóa, là một yeu to trong co chê vận động của thị trường. Sản xuất hàng hóa càng phát triên, hàng hóa bán ra càng nhiều, số lượng người cung ứng càng đông thì cạnh tranh càng gay gắt. Kết quả trong cạnh tranh là sẽ có một số doanh nghiệp bị thua cuộc và bị gạt ra khỏi thị trường trong khi một số doanh nghiệp se ton tại và phát triên hơn nữa. Cũng chính nhờ sự cạnh tranh không ngừng ma nen kinh tê thị trường vận động theo hướng ngày càng nâng cao năng suất lao động xã hội.
Đó cũng là yêu tô đảm bảo cho sự thành công của mỗi quốc 7 gia trên con đường phát triển. Thuật ngừ cạnh tranh” được sử dụng rât phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, sinh thái, thể thao. Theo nha kinh te học Michael Porter của Mỹ: “Cạnh tranh (kinh tê) là giành ỉấy thị phần"[7]. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có.
Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. Ở góc độ thương mại, cạnh tranh là một trận chiến giữa các doanh nghiệp và các ngành kinh doanh nhằm chiếm được sự chấp nhận và lòng trung thành của khách hàng. Hệ thống doanh nghiệp tự do đảm bảo cho các nganh có thê tự mình đưa ra các quyêt định vê mặt hàng cần sản xuất, phương thức sản xuất, và tự định giá cho sản phẩm hay dịch vụ. Tóm lại, qua những quan diêm của các lý thuyết cạnh tranh, tác giả rút ra kêt luận: Cạnh tranh là sự tranh đua giữa những cá nhân, tập thể, đơn vị kinh tế có chức năng như nhau thông qua các hành động, nỗ lực và các biện pháp đê giành phân thăng trong cuộc đua, để thỏa mãn các mục tiêu của mình.
Các mục tieu này có thê là thị phân, lợi nhuận, hiệu quả, an toàn, danh tiếng. Cạnh tranh không phải là sự triệt tiêu lân nhau của các chủ thể tham gia mà cạnh tranh là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp 1. Vai trò của cạnh tranh Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản, một xu thế tất yếu khach quan trong nên kinh tê thị trường và là động lực phát triển của nền kinh tê thị trường. Một mặt nó đào thải không thương tiếc các doanh nghiệp có muc chi phi cao, sản phâm có chât lượng kém.