CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm cho vay Trong nền kinh tế thị trường, NHTM có thể coi là một doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận.
Để đạt được mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận, ngân hàng cần phải sử dụng nguồn vốn một cách hiệu quả nhất. Tín dụng chính là hoạt động cơ bản đem lại nguồn lợi nhuận cho ngân hàng. Theo Bùi Diệu Anh (2013, trang 102): “Tín dụng ngân hàng là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng/tổ chức tín dụng khác) chuyển giao tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Từ khái niệm trên có thể rút ra các đặc điểm của tín dụng ngân hàng như sau: Theo Bùi Diệu Anh (2013, trang 102-108): + Tài sản giao dịch trong tín dụng ngân hàng đa dạng, có thể dưới dạng tiền tệ, tài sản thực hoặc chữ ký.
+ Rủi ro trong tín dụng ngân hàng có tính tất yếu, không thể loại trừ hoàn toàn. + Sự hoàn trả cả gốc và lãi là bản chất của tín dụng nói chung và tín dụng ngân hàng nói riêng. + Sự hoàn trả trong tín dụng ngân hàng là vô điều kiện. Theo luật các tổ chức tín dụng 2010 thì “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, trong đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa 2 Theo nghị định số: 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 hướng dẫn Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thì khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa được hiểu như sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc tổng doanh thu năm trước liền kề, cụ thể như sau: Lĩnh vực nông nghiệp, lâm Lĩnh vực Thương mại và dịch Khu vực nghiệp, thủy sản và lĩnh vực vụ công nghiệp, xây dựng. Tổng Tổng Tổng Tổng Số lao Số lao nguồn nguồn doanh Quy mô doanh thu động động vốn vốn thu I. Doanh 3 tỷ đồng 3 tỷ đồng Không quá 3 tỷ đồng 10 tỷ Không nghiệp siêu trở xuống trở xuống 10 người trở xuống đồng trở quá 10 nhỏ xuống người II. Doanh 20 tỷ đồng 50 tỷ đồng Không quá 50 tỷ 100 tỷ Không nghiệp nhỏ trở xuống trở xuống 100 người đồng trở đồng trở quá 50 xuống xuống người III.
Doanh 100 tỷ đồng 200 tỷ đồng Không quá 100 tỷ đồng 300 tỷ Không nghiệp vừa trở xuống trở xuống 200 người trở xuống đồng trở quá 100 xuống người (Nguồn tham khảo: Chính phủ 2018, nghị định Chính phủ số: 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 hướng dẫn Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thì khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa). Những đặc thù trong cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa Từ các nội dung trên, có thể hiểu: Cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa là một hình thức cấp tín dụng theo đó ngân hàng thương mại giao cho doanh nghiệp nhỏ và vừa một khoản tiền sử dụng vào một mục đích nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi. 3 Nhu cầu vốn của DNNVV rất lớn nếu xét trên tổng thể. Các ngân hàng thương mại luôn có thể đáp ứng nhu cầu vốn của DNNVV.
Tuy nhiên trên thực tế các DNNVV thường khó đáp ứng hết các yêu cầu cấp tín dụng của ngân hàng dẫn đến việc nhận được vốn vay gặp khó khăn. Hiện nay, các DNNVV ngày càng khẳng định được vai trò của mình, thu hút sự chú ý của các ngân hàng, trở thành thị trường đầy tiềm năng của ngân hàng. Hoạt động cho vay DNNVV tại các ngân hàng thương mại mang các đặc thù cơ bản sau: (i) Về quy mô, chi phí thẩm định Xuất phát từ quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNVV không lớn nên quy mô cho vay đối với DNNVV thường thấp, thuộc thị trường bán lẻ của ngân hàng. Về chi phí thẩm định: Chi phí thẩm định đối với DNNVV được đánh giá là cao do khoản vay nhỏ nhưng vẫn phải thực hiện đầy đủ các bước trong quy trình tín dụng.
Ngoài ra, do quy mô khoản vay đối với DNNVV nhỏ, số lượng khoản vay nhiều dẫn đến chi phí xét duyệt, theo dõi khoản vay tính trên một đơn vị tiền vay lớn. Điều này đòi hỏi phải có một phương pháp thẩm định phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao, ví dụ sử dụng phương pháp cho điểm tín dụng thay vì phương pháp chuyên gia (xem xét từng khoản vay một) như với doanh nghiệp lớn. Tuy nhiên, hồ sơ DNNVV thường ít phức tạp nên khâu soạn thảo, lưu trữ hồ sơ đơn giản hơn so với cho vay doanh nghiệp lớn. (ii) Về mức độ rủi ro DNNVV với đặc điểm quy mô khoản vay nhỏ giúp phân tán rủi ro cho ngân hàng đây là điểm khác biệt rất lớn so với cho vay doanh nghiệp lớn.
Tuy nhiên, do những đặc thù của DNNVV đã nêu ở phần trên: Hoạt động không theo một quy luật hay một chiến lược định sẵn nào; khó khăn về nguồn lực tài chính; thiếu nguồn lực tăng trưởng trong đó có năng lực quản trị yếu, thông tin về doanh nghiệp trên thị trường có thể không có sẵn/ ít có …dẫn đến mức độ rủi ro trong cho vay DNNVV cao. Vì vậy, các ngân hàng thường có quy định riêng phù hợp với cho vay DNNVV: Ngân hàng thường ban hành quy trình cho vay riêng đối với DNNVV, các DNNVV 4 khi vay ngân hàng thường phải có tài sản thế chấp, đây chính là nguồn thu nợ thứ hai của ngân hàng làm giảm thiểu rủi ro mất vốn. (iii) Về khả năng sinh lời Ngân hàng có nhiều cơ hội kinh doanh thu lợi nhuận từ hoạt động cho vay DNNVV. Về lãi suất, ngân hàng thường áp dụng mức lãi suất cao cho DNNVV.
Ngoài ra các giao dịch phát sinh đối với một DNNVV thường không nhiều và mang tính chu kỳ, ít biến động. Chính vì những lý do trên, một cán bộ tín dụng ngân hàng có thể quản lý một số lượng khá lớn DNNVV. (iv) Nhu cầu đầu tư trung và dài hạn (bổ sung vốn cố định) luôn phát sinh đồng thời với nhu cầu vay ngắn hạn bổ sung vốn cho kinh doanh: Xuất phát từ quy mô vốn tự có của DNNVV thấp nên DNNVV gặp nhiều khó khăn trong việc đầu tư vào tài sản cố định: nhà xưởng, dây truyền, máy móc thiết bị…. Bên cạnh đó một số doanh nghiệp nhỏ và vừa có nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh để chiếm lĩnh thị trường nhưng lại bị hạn chế cố hữu từ khó khăn về nguồn lực tài chính nên nhiều kế hoạch rất khả thi, hiệu quả lại chỉ nằm trên giấy không thể triển khai thực tế.
Những nhu cầu trên rất cần sự hỗ trợ cho vay trung và dài hạn của ngân hàng bên cạnh việc cho vay bổ sung vốn ngắn hạn như thông thường. (v) Thường có sự gắn kết giữa nhu cầu tín dụng với các nhu cầu hỗ trợ tài chính khác, nói khác đi các DNNVV thường có nhu cầu sử dụng sản phẩm trọn gói tại một ngân hàng. Xuất phát từ trình độ cán bộ quản lý của DNNVV còn hạn chế nên nhiều DNNVV có nhu cầu vay vốn kết hợp với tư vấn quản lý tài chính, sản phẩm phái sinh…. Vì vậy, các ngân hàng cần tìm hiểu nhu cầu tổng thể của một DNNVV để đáp ứng phù hợp, cũng như bán chéo được sản phẩm cho ngân hàng tăng khả năng sinh lời và hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Cụ thể: Ngoài các khoản lãi thu được từ cho vay DNNVV, các ngân hàng còn có thể tận dụng các khoản tiền gửi, các nguồn thu ngoại tệ, thu các loại phí dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, giải ngân tiền mặt, hoặc các dịch vụ bảo lãnh ngân hàng… 1. Rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm rủi ro tín dụng 5 Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel committee on Banking supervision-BCBS) được thành lập vào năm 1974 bởi một nhóm các Ngân hàng trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) tại thành phố Basel, Thụy Sỹ nhằm tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ của hàng loạt các ngân hàng vào thập kỷ 80. Basel đã đưa ra khái niệm về rủi ro tín dụng như sau: “rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc là bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận”.
Theo khái niệm này rủi ro tín dụng có phạm vi khá rộng, không chỉ trong quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với khách hàng mà trong cả các hoạt động khác như đầu tư, phái sinh. Tuy nhiên luận văn chỉ nghiên cứu rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay, vì vậy rủi ro tín dụng có thể hiểu là việc khách hàng không trả nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng. Rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa Kết hợp giữa khái niệm cho vay DNNVV với khái niệm rủi ro tín dụng trên đây, có thể hiểu rủi ro tín dụng trong cho vay DNNVV là loại rủi ro phát sinh do khách hàng DNNVV không có khả năng hoặc không muốn hoàn trả cho ngân hàng một phần hoặc toàn bộ khoản tiền nợ bao gồm cả tiền gốc và lãi khi đến kỳ hạn thanh toán. Do xuất phát từ bản chất của quan hệ tín dụng là dựa trên lòng tin/sự tín nhiệm (credit) nên rủi ro tín dụng là yếu tố tất yếu, mặt khác, cũng do những đặc thù riêng trong cho vay DNNVV nên việc nghiên cứu về rủi ro tín dụng là công việc thường xuyên không thể thiếu được của các ngân hàng trong hoạt động tín dụng nói chung và trong cho vay DNNVV nói riêng.
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái niệm hoạt động quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa 6 Hoạt động kinh doanh ngân hàng luôn gắn liền với rủi ro.