phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chư ng: Chươ 1: Những vấn đề c bản về chất lượng cho vay đối với khách hàng lớn của Ngân hàng thư ng mại. Chươ 2: Thực trạng chất lượng cho vay đối với khách hàng lớn tại Ngân hàng TMCP Quân Đội – Chi nhánh Trần Duy Hưng. Chươ 3: Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay đối với khách hàng lớn tại Ngân hàng TMCP Quân Đội – Chi nhánh Trần Duy Hưng. 3 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƢỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI H CH HÀNG LỚN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI H CH HÀNG LỚN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Những vấn đề chung về h ch h ng lớn 1. Nhữ đặc trư về h h h của h hươ Mỗi một quốc gia có sự khác nhau về điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cũng như pháp luật nên cách phân chia quy mô của doanh nghiệp vì thế cũng khác nhau. Một doanh nghiệp đặt trong điều kiện kinh tế của nước này là doanh nghiệp nhỏ nhưng trong điều kiện kinh tế của nước khác lại là doanh nghiệp lớn.
Vì vậy khi nói đến doanh nghiệp lớn thì ta nên xác định rõ doanh nghiệp đó đang ở trong môi trường kinh tế nào, ở thời điểm nào. Nói một cách khác, ta chỉ có thể xác định được đó là doanh nghiệp lớn khi đặt nó trong một quốc gia cụ thể, tại một thời điểm nhất định.Việc đưa ra một định nghĩa chính xác về doanh nghiệp lớn cho riêng mình có một ý nghĩa quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Thông thường, định nghĩa về doanh nghiệp lớn dựa trên một nhóm các chỉ tiêu định tính và định lượng trong đó các chỉ tiêu định lượng đóng vai trò quyết định phân biệt doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Có ba chỉ tiêu định lượng thường được dùng độc lập hoặc kết hợp với nhau để xác định tính chất lớn của doanh nghiệp: * ượng vốn đầu tư vào máy móc dây chuyền sản xuất.
* ực lượng lao động. * Quy mô tổng tài sản hoặc doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Về mặt định tính, các chỉ tiêu thường được xem xét là c cấu của doanh 4 nghiệp, số người quản lý, người ra quyết định, ngành nghề kinh doanh và rủi ro có thể xảy ra. Đối với hầu hết các nước trên thế giới sự phân loại hình thức doanh nghiệp lớn không liên quan đến hình thức sở hữu cũng như tư cách pháp nhân của doanh nghiệp, tức là khái niệm sẽ được áp dụng chung cho doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty liên doanh.
Tại Việt Nam, chưa có một định nghĩa chính thức nào xác định doanh nghiệp lớn là gì tuy nhiên theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa đã ban hành định nghĩa về DNNVV. DNNVV là c sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tư ng đư ng tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Bảng 1. Tiêu chí phân loại DNNVV của Việt Nam Quy mô DN siêu DN nhỏ Doanh nghiệp vừa nhỏ Số lao Tổng Số lao Tổng nguồn Số lao động hu vực động nguồn vốn động vốn I. Nông, lâm 10 người 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 nghiệp và thủy trở xuống trở xuống người đến đồng đến người đến sản 200 người 100 tỷ đồng 300 người II.
Công nghiệp 10 người 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 và xây dựng trở xuống trở xuống người đến đồng đến người đến 200 người 100 tỷ đồng 300 người III. Thư ng mại 10 người 10 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 và dịch vụ trở xuống trở xuống người đến đồng đến 50 người đến 50 người tỷ đồng 100 người 5 Như vậy có thể hiểu doanh nghiệp lớn là những doanh nghiệp sau: Doanh nghiệp lớn Tổng nguồn vốn Số lao động I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản 100 tỷ đồng 300 người II. Công nghiệp và xây dựng 100 tỷ đồng 300 người III.
Thư ng mại và dịch vụ 50 tỷ đồng 100 người Mặc dù khái niệm doanh nghiệp lớn ở mỗi quốc gia là khác nhau, nhưng ta có thể kết luận rằng thuật ngữ doanh nghiệp lớn là bao hàm một tập hợp các thực thể kinh tế có quy mô lớn nếu xét trên phư ng diện vốn và lao động so với mặt bằng phát triển chung của nền kinh tế ở mỗi quốc gia nhất định. Tiêu chí phân loại khách hàng lớn tại Ngân hàng TMCP Quân Đội: Doanh thu 1.000 tỷ đồng Tổng Tài sản 500 tỷ đồng Đặc điểm của KHL * Hoạt động kinh doanh của KHL: Các KHL thường là các doanh nghiệp đã hoạt động lâu năm trên thị trường do đó hoạt động thường ổn định, tăng trưởng đều đặn và ít biến đổi. Các doanh nghiệp lớn với quy mô của mình có thể đứng vững và hoạt động tốt trong điều kiện nền kinh tế cạnh tranh mạnh mẽ. Doanh nghiệp lớn thường có một dây chuyền sản xuất lớn nên khi nền kinh tế biến động thì bộ máy sản xuất cồng kềnh như vậy sẽ không dễ dàng thay đổi để thích nghi với thị trường.
Do vậy khó khăn mà doanh nghiệp lớn gặp phải đó là: bộ máy quản lý nặng nề, thay đổi chậm đối với những thay đổi đột ngột của thị trường. * Ngành nghề mà các KHL đang khai thác. Với ưu thế về quy mô và nguồn lực rất lớn của mình nên doanh nghiệp lớn có thể tham gia vào hầu hết các ngành nghề trong nền kinh tế mà chủ yếu là các ngành nghề quan trọng của quốc gia như: công nghiệp nặng, khai thác khoáng sản, luyện kim, ngân 6 hàng tài chính, bảo hiểm, may mặc. Các ngành nghề được nêu ở trên đều là các ngành nghề có số vốn đầu tư ban đầu rất lớn, công nghệ sử dụng cao và độ chính xác lớn, lao động sử dụng thường là lao động có tay nghề cao và lượng sử dụng lao động rất nhiều.
Các doanh nghiệp lớn thường có một ngành nghề kinh doanh chính, bên cạnh đó còn mở rộng đầu tư vào các nghành liên quan, thậm chí có thể sản xuất đa ngành nghề không liên quan đến nhau. Việc mở rộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp lớn ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của nền kinh tế do đó cần phải được cân nhắc theo nghành nghề trọng điểm và theo chiều sâu. * Chu kỳ kinh doanh của các doanh nghiệp lớn: thường diễn ra đều đặn và độ ổn định cao mang tính chất dài hạn do các sản ph m và dịch vụ cung cấp đều có chiến lược phát triển dài hạn như: các sản ph m làm nguyên liệu đầu vào của quá trình sản xuất, các sản ph m cung cấp năng lượng như than, gas, dầu khí, các sản ph m tiêu dùng thiết yếu và các dịch vụ quan trọng huyết mạch của nền kinh tế quốc dân như NH, tài chính, bưu chính viễn thông… * Môi trường cạnh tranh của các doanh nghiệp lớn: Các doanh nghiệp lớn chiếm một số lượng rất nhỏ trong tổng số các DN đăng ký kinh doanh nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc gia. Đa phần môi trường cạnh tranh ở đây là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước do các doanh nghiệp vừa và nhỏ không đủ nguồn lực để canh tranh.
Thị trường hàng hoá của các doanh nghiệp lớn rất rộng từ thành thị đến nông thôn; từ người giàu đến người nghèo. vì các sản ph m của doanh nghiệp thường là các sản ph m thiết yếu quan trọng trong cuộc sống. Vai trò của KHL Các doanh nghiệp quy mô lớn đã có vai trò chiến lược trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa của các nền kinh tế thành công ở khu vực 7 Đông như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore. Tại Việt Nam, phân tích về các doanh nghiệp lớn thường nhấn mạnh vào những yếu kém và phi hiệu quả của các tập đoàn kinh tế nhà nước, trong khi các vấn đề chính sách về quản lý, giám sát và khuyến khích phát triển các doanh nghiệp lớn, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế tư nhân quy mô lớn, ít được đề cập và nghiên cứu.
Cho dù tầm quan trọng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa rất cần được ghi nhận và tôn vinh, nhưng không nên phủ nhận vai trò khó thay thế của các doanh nghiệp lớn trong quá trình phát triển kinh tế Việt Nam. Vai trò của các doanh nghiệp lớn: Thứ nhất, doanh nghiệp lớn đóng góp phần quyết định vào việc định hướng thị trường và giúp Nhà nước điều tiết nền kinh tế: Ngành nghề tập trung chủ yếu là các doanh nghiệp khai thác kinh doanh tài nguyên khoáng sản như: dầu khí, than và các ngành kinh tế nhà nước nắm thế độc quyền như: hàng không, ngân hàng, tài chính, viễn thông, điện lực…đó là các ngành nghề mang tính chất quyết định vào sự bình ồn của thị trường. Các doanh nghiệp lớn hiện nay chủ yếu là các doanh nghiệp Nhà nước, chiếm 60 doanh thu trong Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam (Báo cáo VNR500 năm 2014). Vì vậy, Nhà nước có thể tác động dễ dàng tới các doanh nghiệp lớn để điều khiển nền kinh tế theo ý muốn.
Thứ hai, sự ổn định của các doanh nghiệp lớn liên quan tới sự ổn định của thị trường: sự phá sản của một tập đoàn kinh tế lớn có thể dẫn tới sự bất ổn định của toàn nền kinh tế. Khi một doanh nghiệp có số vốn đăng kí lớn nắm giữ trong tay hàng triệu việc làm r i vào phá sản nó có thể dẫn tới hàng triệu người lâm vào tình trạng phá sản theo, khiến nền kinh tế r i vào bất ổn thậm chí phá sản. Ví dụ như vào năm 2001, sự phá sản của hệ thống ngân hàng là nguyên nhân làm nền kinh tế Argentina r i vào suy thoái. Hay khủng 8 hoảng tài chính thế giới năm 2008 bắt nguồn từ việc phả sản của các tập đoàn tài chính lớn ở phố Wall.
Thứ ba, doanh nghiệp lớn đóng góp giải quyết phần lớn lao động trong nền kinh tế thị trường; chúng ta đã biết một trong những chỉ tiêu phản ánh quy mô của một doanh nghiệp là số lượng lao động trong doanh nghiệp đó.