mở đầu cho những bước tiến tới sự thống nhất chính trị, kinh tế tiền tệ cho các thành viên. Trụ sở của EU được đặt tại Brucxen (Bỉ). 4 cơ quan quyền lực cao nhất của EU là: • Nghị viện Châu Âu (European Parliament): phê chuẩn luật mới, phê chuẩn kế hoạch ngân sách EU, kiểm tra dân chủ các hoạt động của các cơ quan EU, thông qua các quyết định quan trọng như kết nạp thành viên mới, các thỏa thuận hay liên kết giữa EU với các nước khác. • Hội đồng Châu Âu (Council of the European Union): là cơ quan lập pháp có chức năng đưa ra các quyết định chính của liên minh Châu Âu.
• Ủy ban Châu Âu: là cơ quan hành pháp và cơ quan chính phụ trách phần lớn công việc hàng ngày của Liên minh Châu Âu. • Ủy ban các vùng (Committee of the Region): phản ánh ước muốn của các thành viên trong việc giải quyết các vấn đề sao cho tuân thủ chính sách chung của Châu Âu, vừa bảo vệ quyền lợi của mỗi địa phương, mỗi khu vực và mỗi quốc gia thành viên. Ngày 1/1/1995, EU đã chính thức kết nạp thêm 3 thành viên mới: Áo, Phần Lan và Thụy Điển. Ngày 1/5/2004, EU lại có thêm 10 thành viên mới - đánh dấu một sự kiện lịch sử trọng đại, gồm: Ba Lan, Hungary, Xlôvakia, Slovenia, Cộng hòa Séc, Extônia, Latvia, Litva, Cộng hòa Síp và Manta – đưa tổng số thành viên của EU lên 25 quốc gia.
Tổng diện tích của EU khoảng 4 triệu km2, và dân số trên 455 triệu người. Tỷ lệ sinh ở Châu Âu nói chung và ở EU nói riêng duy trì ở mức thấp. Về cơ sở hạ tầng, các quốc gia EU đạt đến sự phát triển rất cao. Hệ thống ngân hàng, giao thông vận tải phát triển rất mạnh, tạo mọi sự thuận lợi cho mở rộng hoạt động thương mại.
Đồng tiền chung Euro cũng là một trong những lợi điểm giúp các nhà xuất khẩu, trong đó có Việt Nam đơn giản hóa quá trình tìm hiểu về mức ổn định của đồng tiền giao dịch trong khối. Đặc điểm của thị trường EU. Thị trường chung EU là một không gian bao trùm lãnh thổ của các nước thành viên mà ở đó hàng hóa, sức lao động, vốn, dịch vụ được lưu chuyển hoàn toàn tự do giống như khi chúng ở trong một thị trường đa quốc gia. Thị trường chung hay còn gọi là thị trường nội địa thống nhất ngày càng được kiện toàn.
Việc tự do lưu chuyển các yếu tố sản xuất không còn nhiều vướng mắc như trước đây. Gắn liền với sự ra đời của thị trường chung là một chính sách thương mại chung. Nó điều tiết hoạt động xuất khẩu và lưu thông hàng hóa dịch vụ trong nội khối. EU là trung tâm kinh tế hùng mạnh của thế giới, tổng GDP của EU năm 2005 là 11,650 tỷ USD, chiếm 21% GDP thế giới.
Thu nhập bình quân trên đầu người của EU 25 năm 2005 là 28,100 USD. Thu nhập bình quân trên đầu người giữa các nước EU còn nhiều cách biệt đã tạo nên một thị trường chung có nhiều phân khúc đa dạng và phong phú. Nhìn chung, 10 quốc gia mới gia nhập còn khoảng cách đáng kể so với EU 15.1 : Một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của EU qua các năm 2006 (dự 2007 (dự % 2002 2003 2004 2005 đoán) đoán) Tốc độ tăng GDP 1,2 1,2 2,4 1,5 2,1 2,4 Tốc độ tăng tiêu dùng 1,6 1,6 2,1 1,6 1,6 2,1 Tốc độ tăng đầu tư -1,2 0,8 3,0 2,3 3,5 3,6 Tốc độ tăng việc làm 0,4 0,2 0,6 0,9 1,0 1,0 Tỷ lệ thất nghiệp 8,7 9,0 9,0 8,7 8,5 8,1 Tỷ lệ lạm phát 2,1 1,9 2,1 2,3 2,2 1,9 Nợ chính phủ (%GDP) 61,4 63,0 63,4 64,1 64,2 64,3 Cán cân tài khoản vãng lai 0,3 0,1 0,0 -0,3 -0,4 -0,3 (% GDP) Nguồn: Vinanet. Tốc độ tăng trưởng GDP trung bình trong giai đoạn 1996 - 2004 của EU 25 là 2.3%, và tăng trưởng của các quốc gia thuộc đồng Euro là 2.1%, của EU 10 là 3.
Nhưng trong năm 2005 tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước đồng Euro khá trì trệ với tốc độ là 1. Theo IMF, những nguyên nhân chính dẫn đến sự giảm sút tốc độ tăng trưởng khu vực này là do: cầu nội địa tăng trưởng thấp, chế độ phúc lợi khá hào phóng, tính dễ tổn thương trước các cú sốc bên ngoài (giá dầu mỏ tăng), Đức là nước có nền kinh tế lớn nhất EU nhưng chỉ tăng trưởng 0.8% trong năm 2005, do vậy đã tác động đến tình hình tăng trưởng kinh tế của khối EU. Các nhà phân tích kinh tế dự báo kinh tế khu vực EU sẽ ổn định và phục hồi trong năm 2006 với tốc độ tăng trưởng khoảng 2.Thị trường EU có chính sách thương mại chung, tất cả các nước thành viên EU đều áp dụng chính sách sản phẩm nhập khẩu chung đối với nước thứ ba. EU đã có định chế nhập khẩu tự do: không có kiểm soát ngoại hối đối với việc thanh toán hàng nhập khẩu.
Các biện pháp sử dụng trong quản lý xuất nhập khẩu là hàng rào thuế quan, quota, các quy định về chống phá giá, chống hàng giả … Mặc dầu thuế quan của EU thấp hơn một số nước phát triển khác nhưng EU vẫn được xem là một thị trường được bảo hộ chặt chẽ thông qua hàng rào kỹ thuật như: tiêu chuẩn về chất lượng, an toàn thực phẩm, vệ sinh thực phẩm, tiêu chuẩn về môi trường, an toàn lao động … Chính sách ưu đãi thuế quan phổ cập GSP được EU sử dụng để khuyến khích các nước đang và chậm phát triển. Việt Nam là một trong các quốc gia hiện được hưởng GSP của EU. Hàng hóa được hưởng GSP phải tuân theo các quy định chặt chẽ về xuất xứ hàng hóa, đặc biệt đối với các sản phẩm có thành phần nguyên liệu, bán thành phẩm nhập khẩu. Hệ thống phân phối EU về cơ bản cũng giống như hệ thống phân phối của một quốc gia, gồm mạng lưới bán buôn và mạng lưới bán lẻ.
Tham gia vào hệ thống phân phối này là các công ty xuyên quốc gia, hệ thống các cửa hàng, siêu thị, các công ty bán lẻ độc lập… Rất ít trường hợp các siêu thị lớn hoặc các công ty bán lẻ độc lập mua hàng trực tiếp từ các nhà xuất khẩu nước ngoài. Các mối quan hệ giữa nhà bán buôn và bán lẻ trên thị trường EU không phải ngẫu nhiên mà phần lớn là có quan hệ tín dụng và mua cổ phần lẫn nhau. Các nhà nhập khẩu của EU yêu cầu rất cao về việc tuân thủ chặt chẽ các điều kiện trong hợp đồng, đặc biệt là chất lượng và thời gian giao hàng. Các cam kết trong hợp đồng được giám sát nghiêm ngặt bởi các chế tài của luật kinh tế.
Thị trường nhập khẩu sản phẩm gỗ của EU: EU là nhà nhập khẩu hàng đầu thế giới về sản phẩm gỗ. Trong năm 2003, tổng sản phẩm gỗ nhập khẩu của các nước EU là 22,230 tấn, trị giá khoảng 79,931 triệu Euro. Trong giai đoạn năm 2001-2003, tình hình nhập khẩu gỗ có sự giảm nhẹ (2,2%). Anh là quốc gia nhập khẩu các sản phẩm gỗ lớn nhất EU (chiếm 16,7%), tiếp đến là Italia (14,2%), Đức (14,2%), Pháp (9,3%), Tây Ban Nha (8%) và Hà Lan (6,8%).
Các quốc gia EU 10 có lượng nhập khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ không nhiều, tập trung vào một số quốc gia như Ba Lan, Hungary, Cộng hòa Séc.2: Nhập khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ của các nước EU năm 2001-2003 (Nguồn: Eurostat (2004)) ĐVT: Triệu Euro/1,000 tấn Tên nước/khu 2001 2002 2003 vực Giá trị Sản Giá trị Sản Giá trị Sản lượng lượng lượng Tổng nhập 22,733 80,932 22,594 79,735 22,230 79,931 Các nước ngoài EU 11,162 46,385 10,786 45,796 10,757 45,697 Các nước đang phát triển 4,223 7,842 3,919 7,218 3,789 7,015 Anh 3,638 7,119 3,880 7,728 3,722 8,034 Italia 3,231 10,555 3,275 10,511 3,161 9,956 Đức 3,566 8,578 3,352 7,686 3,152 7,375 Pháp 2,104 4,728 2,004 4,532 2,070 4,940 Tây Ban Nha 1,810 6,196 1,770 5,556 1,784 5,335 Hà Lan 1,687 3,441 1,612 3,402 1,519 3,259 Bỉ 1,468 5,514 1,397 4,669 1,428 5,078 Áo 1,294 8,324 1,259 8,070 1,313 8,314 Đan Mạch 1,026 2,435 1,049 2,459 1,078 2,688 Thụy Điển 923 9,402 902 9,741 904 9,159 Phần Lan 662 11,397 697 12,025 735 12,330 Ai Len 476 643 469 736 534 871 Bồ Đào Nha 481 1,361 458 1,187 371 770 Hi Lạp 277 785 386 802 367 975 Lux-xăm-bua 91 455 82 631 93 846 Nhà cung cấp sản phẩm gỗ cho EU: Các nước cung cấp sản phẩm gỗ EU được chia thành 2 nhóm chính: Nhóm I: Các quốc gia EU (chiếm tỷ trọng 50%). Các quốc gia EU này vừa là nhà nhập khẩu sản phẩm gỗ từ các nước đang phát triển và sau đó tái xuất sang các nước EU khác, điển hình như Đức, Thụy Điển và Phần Lan. Sản lượng cung cấp của 3 quốc gia này chiếm 25% tổng lượng gỗ nhập khẩu của các nước EU (năm 2003), trong đó kim ngạch xuất khẩu của Đức là 2,298 triệu Euro, Thụy Điển là 2,677 triệu Euro và Phần Lan là 1,618 triệu Euro. Nhóm II: những nhà cung cấp bên ngoài khối EU (50%) bao gồm các nước đang phát triển, các nước Châu Á, các nước Đông Âu… Giai đoạn 2002-2005, 10 nhà cung cấp chính các sản phẩm gỗ nội thất cho các quốc gia EU thuộc nhóm này là Trung Quốc, Inđônêxia, Romania, Việt Nam, Hà Lan, Mỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Nam Phi và Brazil.
Trong đó Trung Quốc chiếm thị phần 37,7% với tốc độ tăng trưởng của giai đoạn này là 145,9%, kế tiếp là các quốc gia Inđônêxia (chiếm thị phần 7,4%), Romania (chiếm thị phần7,2%) và Việt Nam (chiếm thị phần 4,6%). (Tham khảo số liệu các nhà cung cấp sản phẩm gỗ nội thất cho các quốc gia EU ở phụ lục 2) Trung Quốc Inđônêxia Việt Nam Malaysia Triệu Euro 4500 Trung Quốc 4000 3500 3000 2500 2000 1500 1000 Inđônêxia 500 Việt Nam 0 Malaysia 2002 2003 2004 2005 Hình 1.2: Giá trị nhập khẩu đổ gỗ của EU từ các nước. Nguồn: Eurostat (2005) Nhìn vào hình 1.2 ta thấy kim ngạch xuất khẩu gỗ của Việt Nam sang thị trường EU đã vượt qua Malaysia, nhưng vẫn còn đứng sau Inđônêxia và còn khá nhỏ bé để cạnh tranh ngang bằng với Trung Quốc. Tuy nhiên, với tốc độ tăng trưởng hiện nay của lĩnh vực xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam hoàn toàn có cơ sở tin tưởng vào tương lai sáng sủa hơn.
Hiện tại, Việt Nam có thể nhắm đến phân khúc thị trường còn trống, tập trung vào đối tượng khách hàng có thu nhập trung bình và thấp phù hợp với năng lực sản xuất trong nước. Mức chi tiêu cho sản phẩm gỗ của EU: Tổng mức chi tiêu của các nước EU 25 cho sản phẩm gỗ trong giai đoạn 2002-2004 ước tính trung bình hơn 74 tỉ Euro/năm.