Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động xuất khẩu gạo. - Chương 2: Thực trạng hoạt động xuất khẩu gạo tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Vĩnh Long. - Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động xuất khẩu gạo tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Vĩnh Long đến năm 2020. 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU GẠO 1.1 Lý luận chung về hoạt động xuất khẩu 1.1 Khái niệm xuất khẩu Theo điều 28 Luật thương mại 2005: Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.2 Vai trò của hoạt động xuất khẩu Đối với doanh nghiệp: thông qua hoạt động xuất khẩu, doanh nghiệp sẽ mở rộng thị trường tiêu thụ để từ đó thúc đẩy mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh và phát triển.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn có cơ hội học hỏi về công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến cùng những hiểu biết trong kinh doanh quốc tế. Ngoài ra, hoạt động xuất khẩu còn tạo ra sức ép cạnh tranh, từ đó thúc đẩy doanh nghiệp không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh của mình (Võ Thanh Thu, 2012). Đối với quốc gia: - Xuất khẩu giúp tạo ra nguồn thu ngoại tệ cho đất nước, từ đó đảm bảo cân đối trong cán cân thanh toán và thỏa mãn nhu cầu nhập khẩu tư liệu sản xuất thiết yếu phục vụ cho công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Bên cạnh đó, thông qua việc xuất khẩu những mặt hàng có thế mạnh, còn giúp quốc gia khai thác hiệu quả lợi thế so sánh tuyệt đối và tương đối của đất nước.
- Xuất khẩu góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế do kích thích mở rộng quy mô sản xuất trong nước và tạo điều kiện cho nhiều ngành nghề mới ra đời để phục vụ cho xuất khẩu, từ đó gây phản ứng dây chuyền cho nhiều ngành kinh tế phát triển theo. Điều này gây tác động tích cực đến việc tạo ra việc làm và nâng cao mức sống cho người lao động. - Xuất khẩu còn giúp quốc gia phát triển quan hệ đối ngoại với các nước trên thế giới để từ đó tăng cường, thiết lập các quan hệ mua bán và đầu tư với họ. Khi đó, môi trường kinh tế trong nước được mở rộng và tính cạnh tranh ngày càng cao đòi hỏi các doanh nghiệp trong nước phải không ngừng hoàn thiện, đổi mới và thích nghi để đáp ứng yêu cầu của thị trường (Võ Thanh Thu, 2012).3 Các hình thức xuất khẩu Muốn đưa được sản phẩm xâm nhập thị trường nước ngoài, doanh nghiệp phải xác định được phương thức xâm nhập tốt nhất, tức mang lại hiệu quả kinh tế tối ưu cho mình.
Doanh nghiệp có thể lựa chọn các phương thức xuất khẩu sau: xuất khẩu trực tiếp và xuất khẩu gián tiếp.1 Xuất khẩu trực tiếp Xuất khẩu trực tiếp là hình thức mà nhà sản xuất tự đảm nhận hoạt động xuất khẩu của mình ra thị trường nước ngoài nên đòi hỏi doanh nghiệp phải thông thạo các nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu, am hiểu về thị trường quốc tế và nhãn hiệu hàng hóa truyền thống của doanh nghiệp đã từng có mặt trên thị trường quốc tế. Trong trường hợp này, vốn đầu tư và các rủi ro có thể xảy ra sẽ cao hơn nhưng lợi nhuận tiềm năng mang lại cũng nhiều hơn do doanh nghiệp không phải mất các khoản chi phí trung gian. Doanh nghiệp có thể tiến hành xuất khẩu trực tiếp qua các phương thức sau (Dương Hữu Hạnh, 2005): - Phòng hay bộ phận xuất khẩu đặt ở trong nước: cách tổ chức này thường thấy trong các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ khi họ muốn xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài. Họ sẽ trực tiếp tự thực hiện mọi hoạt động liên hệ đến xuất khẩu, từ tìm kiếm khách hàng cho đến tổ chức ký kết và thực hiện hợp đồng xuất khẩu.
- Chi nhánh hay công ty con bán hàng ở nước ngoài: cách tổ chức này thích hợp với thị trường có tiềm năng cao và quy mô xuất khẩu lớn. Một chi nhánh hay công ty con bán hàng ở nước ngoài thường sử dụng như một trung tâm triển lãm và dịch vụ khách hàng, cho phép doanh nghiệp có mặt để kiểm tra chương trình hoạt động nhiều hơn tại thị trường nước ngoài, đồng thời tạo điều kiện cho họ nhanh chóng nắm bắt nhu cầu khách hàng và tình hình thị trường để phục vụ khách hàng tốt hơn. - Các nhà phân phối hay các nhà đại lý ở nước ngoài: doanh nghiệp cũng có thể thuê mướn các nhà phân phối hay các nhà đại lý nước ngoài để làm đại diện và bán hàng cho doanh nghiệp ở nước ngoài khi quy mô thị trường lớn. Họ sẽ bán hàng theo quy định của doanh nghiệp và được doanh nghiệp chi trả hoa hồng.
6 - Kho bán hàng ở nước ngoài: kho này sẽ vừa là nơi dự trữ và vừa là nơi bán hàng cho doanh nghiệp tại thị trường nước ngoài. Các kho bán hàng ở nước ngoài thường được bố trí ở những nơi là trung tâm phát luồng hàng cho cả một khu vực của thị trường.2 Xuất khẩu gián tiếp Xuất khẩu gián tiếp là hình thức mà nhà sản xuất sử dụng bên thứ ba, là các nhà trung gian độc lập để bán sản phẩm ra nước ngoài. Hình thức này đòi hỏi vốn đầu tư ít và không cần triển khai một phòng xuất khẩu, lực lượng bán hàng ở nước ngoài hay một loạt tiếp xúc với nước ngoài nên ít rủi ro và thích hợp cho những doanh nghiệp có quy mô nhỏ, còn thiếu kinh nghiệm bán hàng ra nước ngoài và hiểu biết về thị trường quốc tế. Doanh nghiệp có thể thực hiện xuất khẩu gián tiếp theo nhiều phương cách sau (Dương Hữu Hạnh, 2005): - Công ty quản trị xuất khẩu: thực hiện công việc quản trị các hoạt động xuất khẩu cho công ty khác để hưởng phí thù lao.
Phương thức này thích hợp với các doanh nghiệp xuất khẩu có quy mô nhỏ thường thiếu kinh nghiệm bán hàng ra nước ngoài hoặc không đủ khả năng về vốn để tổ chức các đơn vị xuất khẩu riêng, do đó họ thường thông qua công ty quản trị xuất khẩu để xuất khẩu sản phẩm của mình. - Thương gia xuất khẩu đặt cơ sở ở trong nước: nhà trung gian này mua sản phẩm của doanh nghiệp xuất khẩu rồi bán ra nước ngoài với chi phí riêng của mình và chịu mọi rủi ro liên quan đến xuất khẩu. Như vậy, doanh nghiệp có thể thông qua trung gian này để bán được sản phẩm của mình trên những thị trường khó xâm nhập nhưng lại không thể thu thập được thông tin của thị trường. - Đại lý xuất khẩu đặt cơ sở trong nước: thực hiện chức năng liên kết giữa nhà sản xuất với nhà nhập khẩu.
Họ sẽ chịu trách nhiệm tìm kiếm, thương lượng với khách mua hàng nước ngoài cho nhà sản xuất và được chi trả tiền hoa hồng. Phương thức này có mức đầu tư thấp và các rủi ro tài chính cũng thấp, thích hợp trong giai đoạn đầu của chiến lược xâm nhập thị trường nước ngoài của doanh nghiệp. - Nhà ủy thác xuất khẩu: những cá nhân hoặc tổ chức được ủy thác thường là đại diện cho những người mua nước ngoài cư trú trên nước của nhà sản xuất. Khi 7 hàng hóa chuẩn bị được đặt mua, nhà ủy thác lập phiếu đặt hàng với nhà sản xuất được chọn và họ sẽ quan tâm đến mọi chi tiết có liên quan đến quá trình xuất khẩu.
Bán hàng cho nhà ủy thác là một phương thức thuận lợi cho xuất khẩu vì việc thanh toán thường được bảo đảm nhanh chóng và những vấn đề vận chuyển hàng hóa cũng do các nhà ủy thác xuất khẩu chịu trách nhiệm. - Tổ chức hợp tác xã: tổ chức này thực hiện các hoạt động xuất khẩu thay mặt cho nhiều nhà sản xuất và một phần nào đó chịu sự kiểm soát về hành chánh bởi họ. Hình thức này thường được các nhà sản xuất nông sản chưa qua chế biến như trái cây, cà phê, bắp… sử dụng. - Liên doanh: các nhà sản xuất có thể liên kết với các nhà nhập khẩu nước ngoài hình thành nên đơn vị liên doanh giữa hai bên để cùng chia sẻ tiềm năng và thế mạnh của nhau, đồng thời còn giúp nhà sản xuất có thể tăng khả năng xâm nhập vào thị trường nước ngoài.
Đối với các phương thức xâm nhập thị trường nước ngoài trên, các doanh nghiệp thường có thái độ ưa thích khác nhau đối với từng phương thức xâm nhập, nhưng không nên chỉ chọn một phương thức xâm nhập thị trường nước ngoài vì quá hạn hẹp và nhiều rủi ro, hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu sáng suốt đều thích nghi với từng tình huống cụ thể và sử dụng đồng thời nhiều phương thức xâm nhập thị trường.4 Quá trình tổ chức hoạt động xuất khẩu hàng hóa 1.1 Nghiên cứu tiếp cận thị trường nước ngoài Nghiên cứu thị trường là nhằm nắm vững các yếu tố thị trường, hiểu biết các qui luật vận động của thị trường để làm cơ sở cho việc đưa ra các quyết định quản trị liên quan đến xuất khẩu hàng hóa của doanh nghiệp. Nghiên cứu tiếp cận thị trường nước ngoài bao gồm các nội dung sau: - Tổ chức thu thập thông tin là công việc đầu tiên của người nghiên cứu thị trường. Có thể thu thập thông tin từ các nguồn khác nhau như: các tổ chức quốc tế về thương mại và phát triển kinh tế, các cơ quan thống kê, các thương nhân có quan hệ làm ăn buôn bán, hay thu thập tại hiện trường. Thông tin thu thập tại hiện trường 8 chủ yếu được thu thập theo trực quan của nhân viên khảo sát thị trường hay phỏng vấn qua các bảng câu hỏi, và loại thông tin này cần được xử lý để thông tin có độ tin cậy cao.
- Tổ chức phân tích thông tin và xử lý thông tin: cần phân tích và xử lý các thông tin về môi trường ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, các thông tin về nhu cầu tiêu dùng của thị trường và về sự biến động của giá cả hàng hóa trên thị trường cùng các nguyên nhân dẫn đến xu hướng thay đổi đó.