CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Những vấn đề chung về doanh nghiệp 1. Khái niệm doanh nghiệp Khi đứng trên nhiều góc độ khác nhau từ lý thuyết đến thực tế, chúng ta có thể thấy được khái niệm về doanh nghiệp, cũng như bao khái niệm khác đều sẽ có những điểm riêng biệt và không giống nhau. Để minh chứng cho điều này, khái niệm doanh nghiệp dưới góc nhìn của sự phát triển được cho là:” Doanh nghiệp tập hơp những con người tập trung sản xuất ra của cải, vật chất.
Nó hình thành, phát triển theo thời gian, có những thành công và đi kèm theo đó là những thất bại, đôi khi phải vượt qua những thời điểm nguy kịch và có thể có những lúc phải ngừng hoạt động sản xuất, thậm chí tệ hơn là tiêu vong nếu gặp phải những khó khăn mà chúng không thể vượt qua được”. Ngoài ra, theo góc độ của các nước tư bản, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập theo số lượng vốn, trong đó các thành viên góp vốn chỉ có trách nhiệm theo khối lượng vốn góp Dù được nhìn nhận ở các góc độ nào đi chăng nữa, chũng ta cũng chẳng thể phủ nhận được hình thức thể hiện của doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế với mục đích hoạt động chủ yếu là kinh doanh vì tối đa lợi nhuận. Luật doanh nghiệp 2020 đã định nghĩa như sau về doanh nghiệp: “doanh nghiệp là là một tổ chức kinh tế độc lập, có tên riêng, có tài sản riêng biệt, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Tính đến thời điểm hiện tại, khi mà Việt Nam vẫn đang trong quá trình hội nhập toàn cầu thì chủ yếu các doanh nghiệp trên thị trường đều tập trung thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh với mục tiêu đạt được lợi nhuận tối đa.
Vậy nên, các doanh nghiệp này được coi là các tổ chức kinh tế vị lợi. Bên cạnh đó, vẫn có các doanh nghiệp hoạt động không coi tạo ra lợi nhuận lớn nhất là mục tiêu chính. Đặc điểm và phân loại các loại hình doanh nghiệp 1. Đặc điểm doanh nghiệp tại Việt Nam Như chúng ta đã biết tại Việt Nam có rất nhiều loại hình doanh nghiệp, vậy nên kéo theo cũng có rất nhiều đặc điểm đi kèm với từng loại hình đó.
Nhưng chung quy lại dù có nhiều loại hình doanh nghiệp với nhiều điểm nổi trội, khác biệt nhau đi chăng nữa thì chúng vẫn luôn có những đặc điểm chung như: Thứ nhất, doanh nghiệp có tính hợp pháp. Tính hợp pháp ở chỗ này được thể hiện thông qua việc nộp hồ sơ tới các cơ quan đăng kiểm có thẩm quyền để đăng kí và nhận được giấy phép đăng kí thành lập và chuẩn bị những bước tiếp theo cho việc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chỉ với những bước thực hiện ở trên, doanh nghiệp được coi là chủ thể tồn tại và chịu trách nhiệm cho các hoạt động của mình bằng các tài sản của mình và trước pháp luật như một pháp nhân bình thường. Thứ hai, doanh nghiệp khi đi vào hoạt động với các hoạt động chủ yếu vì lợi ích lợi nhuận là hàng đầu hay thực hiện cung ứng các dịch vụ một cách thường xuyên, lâu dài.
Nhưng bên cạnh đó, vẫn có các doanh nghiệp hoạt động không vì lợi nhuận mà hướng tới các mục tiêu cộng đồng. Thứ ba, dù thuộc loại hình nào đi chăng nữa, mọi doanh nghiệp đều hoạt động một cách có tổ chức. Tính tổ chức của mỗi doanh nghiệp được thể hiện ở cơ cấu bộ máy quản trị, hoạt động; hay cơ cấu nhân sự. Đi kèm với đó, mỗi doanh nghiệp đều có trụ sở giao dịch, được đăng kí theo quy định của pháp luật và có tài sản để quản lý, đảm bảo cho các hoạt động của bản thân.
Phân loại doanh nghiệp Căn cứ vào những yếu tố, điều kiện, chúng ta có thể phân loại các doanh nghiệp theo đặc điểm sau: Thứ nhất, dựa vào hình thức pháp lý, Luật doanh nghiệp 2020 quy định có các loại hình công ty, doanh nghiệp sau đây: - Công ty trách nhiệm hữu hạn được chia ra hai loại là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, là công ty mà tất cả thành viên trong công ty đều phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác có liên quan của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ đã góp. 8 - Công ty cổ phần là công ty mà trong đó vốn điều lệ của công ty được thực hiện chia nhỏ ra và được gọi là cổ phần. Cá nhân hay tổ chức đang nắm giữ cổ phần của doanh nghiệp được gọi là cổ đông và phải có trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác liên trong phạm vi số vốn đã góp tương ứng với số cổ phần đang năm giữu tại doanh nghiệp. - Công ty hợp danh là công ty có số lượng thành viên được quy định tối thiểu là hai, và họ cùng nhau thực hiện hoạt động kinh doanh dưới một cái tên chung.
Theo luật định, thành viên hợp danh chỉ được là cá nhân và phải cótrách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. - Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp được thành lập bởi cá nhân và do cá nhân đó tự làm chủ và hoàn toàn tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. - Doanh nghiệp nhà nước là những doanh nghiệp mà trong đó nhà nước là người sở hữu nắm giữ tối thiểu 51% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó. Thứ hai, dựa vào chế độ trách nhiệm thì phân loại doanh nghiệp thành hai loại như sau: - Chế độ trách nhiệm hữu hạn: là việc chủ sở hữu hay các thành viên thực hiện góp vốn vào công ty chỉ phải chịu trách nhiệm với công ty về các khoản nợ và nhận lợi ích tương ứng với phần mình góp vào công ty mà không phải lấy tài sản cá nhân ra để chịu trách nhiệm.
- Chế độ chịu trách nhiệm vô hạn: là việc chủ sở hữu/thành viên công ty phải chịu trách nhiệm bằng mọi tài sản của mình đối với việc hoàn thành nghĩa vụ của công ty khi nó không có đủ tài sản để có thể thực hiện nghĩa vụ tài chính của bản thân. Cuối cùng, dựa vào tư cách pháp nhân: các tổ chức có tài sản riêng, độc lập và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản ấy đối với mọi nghĩa vụ phát sinh của mình. Ngoài ra, nó còn phải thực hiện nghĩa vụ tham gia các mối quan hệ do pháp luật quy định. Dựa trên tình hình hiện nay của thị trường, loại hình doanh nghiệp được tin tưởng lựa chọn khi thành lập là CTCP.
Bởi nó có những ưu thế hơn so với loại hình khác. Và sau đây là ưu nhược điểm mà loại hình này sở hữu: 9 Ưu điểm: - Là sự lựa chọn chủ yếu của các công ty có mặt trên thị trường với sự góp vốn của ít nhất 3 cá nhân hay tổ chức. Ngoài ra, việc sử dụng loại hình này có thể giúp cho doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc huy động vốn từ nhiều nguồn, đối tượng khác nhau. - Là trách nhiệm của các cổ đông đối với doanh nghiệp tương ứng với phần vốn góp của mình, điều này khiến cho mức độ rủi ro của các cổ đông thường ở mức không cao.
- Lĩnh vực hoạt động của công ty rộng do có cơ cấu vốn góp đa dạng, linh hoạt trong việc tạo ra điều kiện cho nhiều các nhân , tổ chức tham gia góp vốn. - Khả năng thu hút nguồn vốn từ nhiều nguồn là rất cao, ngoài ra còn dễ dàng trong việc huy động vốn bằng kênh cổ phiểu công chúng. Do thu hút vốn có phần dễ dàng hơn nên việc chuyển nhượng vốn cũng tương tự, vì thế mà quy mô, phạm vi tham gia vào công ty sẽ là rất rộng. Nhược điểm: - Do phạm vị, quy mô lẫn số lượng người tham gia công ty là rất rộng, lớn cho nên sẽ có nhưng khó khăn nhất định trong công cuộc quản lý lẫn điều hành công ty.
Bởi lẽ vì nguyên nhân số lượng đông kèm theo việc chủ yếu các cá nhân hay tổ chức không hề quen biết hay lại có sự phân hóa, đối đầu nhau về lợi ích của các cổ đông trong tổ chức. - Bên cạnh những ưu điểm thuận lợi lợi, dễ dàng trong việc thu hút vốn đầu tư vào công ty nên khi thành lập công ty cũng sẽ phức tạp, nghiêm ngặt hơn các loại hình công ty khác do chịu sự ràng buộc chặt chẽ đến từ các quy định của pháp luận nhằm mục đích đảm bảo sự an toàn đối với các thành viên, chủ thể liên quan, chúng ta có thể kể đến một vài điều như chế độ tài chính hay kế toán,… 1. Nội dung hoạt động của doanh nghiệp a. Hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp Vốn là hoạt động vật chất quan trọng cho hoạt động của doanh nghiệp, là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nhu cầu về vốn nổi lên như một vấn đề cấp bách, đặc biệt là đối tượng doanh nghiệp khởi nghiệp. 10 Vấn đề đặt ra đối với các nhà quản trị doanh nghiệp khởi nghiệp là làm thế nào để huy động vốn tối ưu, thu hút các quỹ đầu tư trong và ngoài nước tham gia nhằm tìm kiếm lợi nhuận tối đa và đạt mức tăng trưởng kỳ vọng. Tùy theo lại hình doanh nghiệp và các đặc điểm cụ thể; mỗi doanh nghiệp có thể có các phương thức tạo vốn và huy động vốn khác nhau… Trong điều kiện kinh tế thị trường, các phương thức huy động vốn cho doanh nghiệp được đa dạng hóa, giải phóng các nguồn tài chính trong nền kinh tế, thúc đẩy sự thu hút vốn vào cách doanh nghiệp. Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế và thị trường tài chính sẽ sớm tạo điều kiện để các doanh nghiệp mở rộng khả năng thu hút vốn vào kinh doanh.