Tổng quan luận án
Tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm đóng vai trò trung tâm trong hệ thống thông tin quản lý của doanh nghiệp sản xuất. Đối với ngành hóa chất Việt Nam — một ngành công nghiệp có lịch sử hơn 40 năm phát triển và giữ vị trí thiết yếu trong việc cung cấp tư liệu sản xuất cho các ngành kinh tế quốc dân như nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, y tế — công tác kiểm soát chi phí đầu vào trực tiếp quyết định đến giá thành và năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
Theo tác giả Ngô Quang Hùng, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cạnh tranh thị trường ngày càng gia tăng, công tác quản lý tài chính và kế toán tại các đơn vị thành viên thuộc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam còn bộc lộ một số tồn tại: việc quản lý vật tư, lao động và sử dụng vốn có thời điểm chưa tối ưu, dẫn đến tình trạng lãng phí và làm tăng giá thành sản phẩm. Do đó, việc hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành trên cả hai khía cạnh kế toán tài chính và kế toán quản trị là đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn sản xuất kinh doanh.
Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu trọng tâm nhằm giải quyết khoảng trống quản lý:
- Xác định rõ bản chất, vai trò và ý nghĩa của tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm đối với hoạt động sản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam.
- Hệ thống hóa và luận giải cơ sở lý luận về tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả quản trị chi phí.
- Khảo sát, phân tích toàn diện thực trạng tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, làm rõ kết quả đạt được, các hạn chế và nguyên nhân chủ yếu.
- Đề xuất hệ thống giải pháp và các điều kiện thực hiện nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, đáp ứng yêu cầu quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Về mặt lý luận: Hệ thống hóa và phát triển các vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất dưới góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị.
- Về mặt thực tiễn: Đánh giá thực trạng tại các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam; đề xuất các giải pháp khả thi gắn liền với điều kiện vận hành cụ thể của ngành hóa chất.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm dưới góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị.
- Phạm vi nội dung: Đi sâu vào quy trình thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất.
- Phạm vi không gian: Hệ thống 37 doanh nghiệp trực thuộc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem).
- Phạm vi thời gian: Số liệu và thông tin thực tế được thu thập, khảo sát trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến kế toán chi phí và giá thành theo hai nhóm nội dung chính:
Các công trình nghiên cứu quốc tế
Các tài liệu quốc tế tập trung nghiên cứu bản chất chi phí, phương pháp tính giá thành hiện đại và vai trò của thông tin kế toán quản trị phục vụ việc ra quyết định:
- Naughton-Travers, Joseph P. (2009) trong công trình "Activity-Based Costing: The new Management Tool" đã phân tích tính ưu việt của phương pháp kế toán chi phí trên cơ sở hoạt động (ABC), chỉ rõ việc phân bổ chi phí phát sinh dựa trên mức độ đóng góp của từng hoạt động giúp xác định giá thành sản phẩm chính xác hơn phương pháp truyền thống.
- Raiborn (2011) trong nghiên cứu "Cost Accounting: Foundations and Evolutions" trình bày các thuật ngữ, phương pháp đo lường, nhận diện chi phí, phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng, theo quy trình sản xuất và kỹ thuật phân tích chi phí phục vụ việc định giá bán.
- Atkinson, Kaplan & Young (2012) trong tác phẩm "Management Accounting" đã đề cập đến các khía cạnh của kế toán quản trị chi phí, phương pháp đo lường và hệ thống kế toán trách nhiệm thông qua báo cáo bộ phận nhằm đánh giá thành quả quản lý nội bộ.
- Horngren (2016) trong "Cost Accounting: A Managerial Emphasis" nhấn mạnh vai trò của thông tin chi phí trong hoạch định chiến lược, kiểm soát chi phí, lập báo cáo phân tích theo thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecard) và phân tích lợi nhuận.
- Colin Drury (2018) trong nghiên cứu "Management and Cost Accounting" khái quát phương pháp thu thập, phân loại, đo lường chi phí theo quy trình và sản phẩm, làm cơ sở xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ.
Các công trình nghiên cứu trong nước
Các công trình tại Việt Nam được tác giả phân chia thành hai hướng tiếp cận:
- Nhóm nghiên cứu về tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm (thiên về kế toán tài chính):
- Hà Xuân Thạch (1999) nghiên cứu về phương pháp tính giá thành trong các doanh nghiệp công nghiệp ở Việt Nam.
- Hoàng Đức Long (2000) tập trung vào công tác hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm may mặc.
- Lưu Đức Tuyên (2002) nghiên cứu về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại các doanh nghiệp sản xuất xi măng nhà nước.
- Lê Thị Diệu Linh (2012) nghiên cứu trong các doanh nghiệp xây dựng dân dụng.
- Nguyễn Quang Hưng (2013) nghiên cứu tổ chức kế toán chi phí và giá thành xây lắp trong Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam.
- Nguyễn Thị Hiền (2016) nghiên cứu thực trạng tại các doanh nghiệp may mặc trên địa bàn thành phố Hưng Yên.
- Nhóm nghiên cứu về kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành:
- Trần Văn Dung (2002) nghiên cứu lý luận tổ chức kế toán quản trị chi phí và giá thành trong doanh nghiệp sản xuất.
- Trần Văn Hợi (2007) khảo sát tổ chức kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp khai thác than thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, có đề cập đến kế toán môi trường.
- Hồ Văn Nhàn (2010) nghiên cứu kế toán quản trị chi phí dịch vụ taxi.
- Nguyễn Quốc Thắng (2011) nghiên cứu trong ngành giống cây trồng.
- Đỗ Thị Mai Thơm (2012) khảo sát doanh nghiệp vận tải biển.
- Nguyễn Hoản (2012) nghiên cứu kế toán quản trị trong ngành bánh kẹo.
- Nguyễn Đào Tùng (2012) nghiên cứu trong các doanh nghiệp ngành dầu khí.
- Lê Thị Minh Huệ (2016) nghiên cứu kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp mía đường tại tỉnh Thanh Hóa.
Khoảng trống nghiên cứu của luận án
Qua tổng thuật, tác giả nhận định:
- Đa số các công trình trước đây chỉ giải quyết riêng lẻ tổ chức kế toán chi phí dưới góc độ kế toán tài chính hoặc kế toán quản trị, thiếu sự tích hợp đồng bộ giữa hai hệ thống thông tin này trong cùng một mô hình tổ chức.
- Các nghiên cứu hiện có chủ yếu tập trung vào các ngành may mặc, xi măng, than, dầu khí, xây lắp, nông nghiệp hoặc dịch vụ vận tải, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu về tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam — nơi có quy trình công nghệ chế biến liên tục, phức tạp và danh mục sản phẩm đa dạng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và các quan điểm tiếp cận
- Khái niệm tổ chức kế toán: Luận án tiếp thu quan điểm của Đoàn Xuân Tiên (2014) về tổ chức kế toán như một hệ thống cấu thành gồm tổ chức bộ máy, tổ chức vận dụng phương pháp kế toán để ghi nhận, xử lý, cung cấp thông tin và tổ chức vận dụng chế độ, chính sách tài chính; đồng thời kết hợp quan điểm của Phạm Thành Long (2009) về thiết lập mối liên hệ bản chất giữa đối tượng kế toán và phương pháp hạch toán gắn với nhân sự và bộ máy.
- Học thuyết kế toán động (Dynamic Accounting): Luận án phân tích sự khác biệt giữa kế toán tĩnh (dựa trên giả định doanh nghiệp có thể giải thể, ghi nhận theo giá thị trường) và kế toán động (dựa trên giả định hoạt động liên tục, tính giá theo giá gốc, ghi nhận chi phí theo nguyên tắc cơ sở dồn tích và phù hợp). Kế toán Việt Nam từ cuộc cải cách năm 1995 được xây dựng trên nền tảng kế toán động, đây là cơ sở lý thuyết xuyên suốt để tác giả phân tích luồng vận động của chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ.
- Các nguyên tắc tổ chức: Tuân thủ pháp luật và chuẩn mực kế toán; phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất và phân cấp quản lý; bảo đảm tính thống nhất giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị; bảo đảm tính tiết kiệm, hiệu quả; và triệt để tuân thủ nguyên tắc bất kiêm nhiệm.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp thống kê mô tả:
Nguồn dữ liệu thứ cấp:
- Văn bản pháp luật, chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS)
- Niên giám thống kê, báo cáo chuyên ngành của cơ quan quản lý Nhà nước
- Báo cáo tài chính, báo cáo quản trị nội bộ của Tập đoàn Hóa chất Việt Nam
Nguồn dữ liệu sơ cấp:
- Phiếu điều tra khảo sát (câu hỏi đóng và mở) gửi đến 37 doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam
- Đối tượng khảo sát: Ban Giám đốc, Kế toán trưởng, nhân viên kế toán chi phí
- Phỏng vấn chuyên sâu trực tiếp tại một số đơn vị sản xuất tiêu biểu
- Quan sát thực tế quy trình công nghệ sản xuất và luân chuyển chứng từ
- Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu: Sử dụng phương pháp so sánh, tổng hợp, thống kê mô tả, phân loại chi phí theo cách ứng xử (biến phí, định phí tuyệt đối, định phí cấp bậc, chi phí hỗn hợp bằng phương pháp đồ thị phân tán) nhằm nhận diện thực trạng và xây dựng các giải pháp hoàn thiện.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận về tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất
Chương 1 hệ thống hóa khung lý thuyết toàn diện về tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất với 3 nội dung trọng tâm:
-
Cơ sở lý luận và các nhân tố ảnh hưởng:
- Làm rõ khái niệm chi phí sản xuất (hao phí lao động sống và lao động vật hóa biểu hiện bằng tiền phát sinh trong kỳ) và giá thành sản phẩm (biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí liên quan đến khối lượng sản phẩm hoàn thành).
- Phân tích 4 nhóm nhân tố ảnh hưởng trực tiếp: loại hình kế toán áp dụng (kế toán động/kế toán tĩnh); quy mô và địa bàn hoạt động (tập trung hay phân tán); đặc điểm tổ chức quản lý và phân cấp kinh tế; và đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất (giản đơn hay phức tạp, liên tục nhiều giai đoạn).
-
Nội dung tổ chức kế toán theo hai góc độ:
- Tổ chức bộ máy kế toán: Luận án phân tích ưu nhược điểm của 3 mô hình: mô hình kết hợp giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị (tiết kiệm nhân sự, phù hợp phần lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ); mô hình tách biệt (chuyên môn hóa sâu nhưng chi phí vận hành cao); và mô hình hỗn hợp (kết hợp các phần hành chung và tách riêng phần hành trọng yếu như chi phí - giá thành).
- Dưới góc độ kế toán tài chính: Tổ chức thu nhận thông tin (lập danh mục chứng từ, quy chế lập, luân chuyển, kiểm tra và lưu trữ chứng từ gốc); tổ chức hệ thống hóa và xử lý thông tin qua tài khoản (TK 621, TK 622, TK 627, TK 154 theo phương pháp kê khai thường xuyên; hoặc TK 611, TK 631, TK 632 theo phương pháp kiểm kê định kỳ) và qua 5 hình thức sổ kế toán (Nhật ký - Sổ cái, Nhật ký chung, Chứng từ ghi sổ, Nhật ký - Chứng từ, Kế toán trên máy vi tính); tổ chức lập và phân tích báo cáo tài chính.
- Dưới góc độ kế toán quản trị: Xây dựng định mức chi phí (nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp, sản xuất chung) bằng các phương pháp kỹ thuật, phân tích số liệu lịch sử và phương pháp điều chỉnh; lập dự toán sản xuất, dự toán chi phí hoạt động; và phân loại chi phí phục vụ kiểm soát (biến phí, định phí, mô hình ABC).
-
Kinh nghiệm quốc tế:
- Khảo sát hệ thống kế toán chi phí của Mỹ (tập trung vào kế toán chi phí theo đơn đặt hàng - Job Order Costing, chi phí theo quá trình - Process Costing, kế toán chi phí tiêu chuẩn - Standard Costing và kế toán ABC).
- Khảo sát hệ thống kế toán chi phí của Pháp (tính giá thành theo tài khoản loại 9 tách biệt trong kế toán quản trị).
- Rút ra 4 bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về kết hợp mô hình kế toán, vận dụng linh hoạt các phương pháp tính giá thành hiện đại và thiết kế hệ thống báo cáo phục vụ quản trị nội bộ.
Chương 2: Thực trạng về tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam
Chương 2 phản ánh bức tranh thực tiễn tại 37 doanh nghiệp thành viên của Tập đoàn Hóa chất Việt Nam giai đoạn 2016-2018:
| Nội dung khảo sát |
Thực trạng ghi nhận tại các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam |
| Đặc điểm tổ chức & quản trị |
Chuyển đổi mô hình hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con, bao gồm các Công ty Cổ phần và Công ty TNHH Một thành viên; quy mô sản xuất lớn, công nghệ chế biến phức tạp, liên tục nhiều công đoạn. |
| Mô hình bộ máy kế toán |
Đa số áp dụng mô hình kết hợp giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị trong cùng một phòng kế toán; chưa bố trí nhân sự chuyên trách kế toán quản trị chi phí độc lập. |
| Tổ chức thu nhận thông tin (Chứng từ) |
Sử dụng hệ thống chứng từ bắt buộc theo quy định của Bộ Tài chính (phiếu nhập, xuất kho, bảng phân bổ tiền lương, bảng phân bổ NVL); một số chứng từ nội sinh phục vụ quản trị chi tiết chưa được chuẩn hóa đồng bộ giữa các phân xưởng. |
| Hệ thống tài khoản & sổ kế toán |
Áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp theo Thông tư 200/2014/TT-BTC; sử dụng phương pháp kê khai thường xuyên với các tài khoản TK 621, 622, 627, 154; hình thức sổ kế toán chủ yếu thực hiện trên phần mềm máy vi tính. |
| Xây dựng định mức & lập dự toán |
Đã xây dựng định mức tiêu hao nguyên vật liệu trực tiếp cho các sản phẩm chính (như phân bón, hóa chất cơ bản, săm lốp cao su); tuy nhiên việc lập dự toán chi phí sản xuất chung còn mang tính dàn trải, chưa phân tách rõ biến phí và định phí. |
| Phương pháp tập hợp & tính giá thành |
Chủ yếu áp dụng phương pháp tập hợp chi phí theo phân xưởng và tính giá thành theo phương pháp phân bước hoặc hệ số/tỷ lệ truyền thống; việc phân bổ chi phí sản xuất chung phần lớn căn cứ vào chi phí nhân công trực tiếp hoặc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chưa phản ánh đúng bản chất tiêu hao nguồn lực. |
Đánh giá ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân:
- Ưu điểm: Các doanh nghiệp tuân thủ tốt khung pháp lý của Nhà nước, tổ chức bộ máy kế toán tinh gọn, xử lý số liệu kế toán tài chính kịp thời phục vụ lập báo cáo tài chính năm.
- Tồn tại:
- Tổ chức kế toán quản trị chi phí còn mờ nhạt, chưa phát huy vai trò cung cấp thông tin cho việc ra quyết định điều hành ngắn hạn.
- Việc phân bổ chi phí gián tiếp (chi phí sản xuất chung) chưa hợp lý, dễ dẫn đến hiện tượng sai lệch giá thành đơn vị giữa các nhóm sản phẩm.
- Báo cáo phân tích biến động chi phí giữa thực tế và định mức chưa được lập thường xuyên theo từng kỳ hoạt động ngắn (tuần, tháng) tại từng trung tâm trách nhiệm.
- Nguyên nhân chủ yếu: Nhận thức của một số nhà quản trị về vai trò của kế toán quản trị chưa đầy đủ; năng lực ứng dụng công nghệ thông tin trong kế toán quản trị còn hạn chế; áp lực tuân thủ kế toán tài chính phục