CHƯƠNG 1: TỎNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN NHẬN THỨC VIỆC VAN DUNG KE TOÁN XANH CUA CÁC DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM 1.1 Tong quan nghiên cứu Trong quá trình phát triển nền kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, điều này sẽ không tránh khỏi việc tàn phá môi trường hay ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường. Chang hạn ở vương quốc Anh, Luân Đôn là nơi được gọi với cái tên thành phố sương mù, bắt nguồn cho cái tên này đó là việc đốt than và tất cả những ống khói đều chọc lên bầu trời, dẫn đến việc ô nhiễm vượt gấp may trăm lần mức được cho phép, gây ra ô nhiễm không khí, các bệnh về đường hô hấp cho người dân, chứ không phải xuất phát từ hiện tượng sương mù của tự nhiên. Trung Quốc, Mỹ hay các nước khác trong quá trình phát triển cũng đã tàn phá môi trường. Chính vì vậy những khẩu hiệu bảo vệ môi trường ngày càng được vang lên.
Khi những nên kinh tế phát triển, day mạnh nén sản xuất quốc gia thì song song với đó, những hành động bảo vệ môi trường cần phải được tiến hành. Mỗi cá nhân, mỗi tổ chức doanh nghiệp đều là sẽ một phần quan trọng không thẻ thiếu trong việc đóng góp vào thành công nay. Các doanh nghiệp có thé vận dụng kế toán xanh như một cách giúp họ nắm được mức độ tác động của họ đến môi trường để có sự điều chỉnh, các phương án phù hợp hơn, giảm thiểu tác động xấu tới môi trường. Kế toán xanh ngày càng được nhận thức và vận dụng nhiều hon tại các tổ chức, doanh nghiệp và nhiều quốc gia đang khuyên khích thực hiện.
Các bài nghiên cứu về kế toán xanh đã được các tác giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm và tiến hành nghiên cứu.1 Nghiên cứu nước ngoài Trong bài nghiên cứu của Chris Brook và Lisa Schopohl (2021), tác giả đã đề cập đến mối tương quan giữa những yếu tố về môi trường với nền kinh tế - xã hội. Đồng thời với mục đích thúc đây những nghiên cứu về việc công bồ thông tin môi trường, giá trị tác động và hệ thong kiểm soát quản lý, tác giả đã đưa ra một vài nghiên cứu liên quan. Chang hạn như tác động của sự biến đổi khí hậu và quá trình chuyền đôi nền kinh tế thông thường sang nền kinh tế cacbon thấp sẽ gây ra 15 trang bất 6n định cho hệ thống tài chính, hay việc có thé gây ra sụt giảm GDP (tổng sản phẩm quốc nội) ở một vài quốc gia trên thế giới (NH thế giới World Bank đưa ra dự đoán). Hay từ số liệu của Swiss Re tổng hợp, số liệu thu thập được cho thấy thiệt hại kinh tế toàn cầu do những thiên tai và thảm họa nhân tạo có thể lên đến 2,18 nghìn tỷ USD trong giai đoạn 2010-2019, phần lớn là do các hiện tượng cực đoan gây ra.
Chưa dừng lại ở đó, trong thời gian tới, các thảm họa tự nhiên sẽ còn gây ra nhiều thiệt hại cho toàn cầu, ví dụ ngành bảo hiểm ở vương quốc Anh đã bị thiệt hại không lồ hơn 360 triệu bảng Anh do 2 cơn bão mạnh Storms Ciara va Dennis, những tôn thất nghiêm trọng ấy phải được đền bù, đồng thời những chi phí ay dự kiến sẽ còn tăng thêm trong tương lai. Vậy nên việc công bố và cung cấp những thông tin liên quan đến van đề môi trường đóng góp vai trò vô cùng quan trọng và cấp thiết. Một nghiên cứu vé sự tác động của lượng khí thải Cacbon đến định giá doanh nghiệp được tác giả Griffin, Lont và Pomare (2020), thu thập dữ liệu từ 228 công ty tại Canada trong thời gian 13 năm từ 2006-2018. Mức độ nhạy cảm giữa giá cô phiếu va mức độ phát thải được nghiên cứu thông qua việc sử dụng 2 phương trình dé ước tính lượng phát thải cho những công ty không báo cáo với CDP (một tô chức quốc tế chuyên về quản lý khí hậu và môi trường) và một biến thé của mô hình đánh giá thu nhập thang dư.
Kết quả nghiên cứu đã đưa ra kết luận rằng phát thải khí nhà kính có tác động tích cực tới giá cô phiếu của các công ty trong trường hợp tại Canada. Điều này có thé giải thích khi các doanh nghiệp tại đây có sự đầu tư nhiều vào các biện pháp giảm thiểu lượng khí thải và tiết kiệm năng lượng, vừa đạt được mục đích giảm thiểu rủi ro khí hậu, vừa có thé nâng cao niềm tin, sự ủng hộ và đầu tư đến từ khách hàng cũng như nhà đầu tư khác. Kết quả nghiên cứu này khác với của Gao và công sự (2018), họ cho rằng mức độ phát thải không ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty tại tại Trung Quốc trong giai đoạn 2008-2014. Hay nghiên cứu của Lang và Zhou (2018) cho thấy kết quả trái ngược, tác giả cho thay phát thai nhà kính có thé gây tiêu cực đến giá trị doanh nghiệp của 443 doanh nghiệp tại Mỹ từ năm 1996-2014.
Bài nghiên cứu của Hummel và cộng sự (2020) nghiên cứu xem xét hệ thống kiểm soát môi trường quản lý môi trường áp dung cho các ngân hàng, nghiên cứu 16 thu thập số liệu từ 50 ngân hàng tại 3 nước Áo, Đức và Thụy Sĩ. Các tác giả đã phát triển một mô hình và phương pháp PLS-SEM bình phương nhỏ nhất từng phần đề kiểm nghiệm cách thức và mức độ cân nhắc về MT-XH trong cơ cấu cũng như chính sách của các ngân hàng. Kết quả cho thấy các bên liên quan có tác động lớn đến việc giải quyết các vấn đề liên quan đến môi trường và xã hội của các ngân hàng, hiệu quả các hoạt động vì môi trường và xã hội được nâng cao. Ứng dụng các hệ thống quản lý môi trường trong lĩnh vực ngân hàng nhận được ít sự chú ý hơn trong kế toán xanh.
Một vài nghiên cứu liên quan đến việc các yếu tố thể chế và quốc gia có tác động đến lĩnh vực kế toán xanh. Nghiên cứu của Manzoni và Yazdifar (2020) sử dụng phương pháp hồi quy đa biến xử lý dữ liệu của hơn 1000 công ty hay các báo cáo tài chính xanh từ năm 2012-2017 tại công ty ngành năng lượng ở châu Âu. Kết quả cho thấy các báo cáo tài chính xanh đều chịu tác động từ các chính sách môi trường và những yếu tổ thị trường. Trong khi những chính sách môi trường như giảm phát thải khí nhà kính, sử dụng nguồn năng lượng tái tạo, v.v có tác động tích cực thì những yếu tố thị trường như biến động giá dầu thô, giá điện lại có tác động tiêu cực đến việc thực hiện các báo cáo tài chính xanh.
Điều này cũng đưa ra kết quả tương tự với nghiên cứu của tác giá Wu và cộng sự (2020), đó là các chính sách môi trường có tác động thuận chiều với chất lượng các thông tin tài chính xanh được phản ánh trong các báo cáo. Ngoài những chính sách môi trường được đưa ra trong nghiên cứu cua Manzoni và cộng sự, Wu đã đưa ra thêm vi dụ cụ thé như các tiêu chuẩn về khí thải, hay các khoản đầu tư cho hoạt động, dự án liên quan đến bảo vệ môi trường, v. Những giá trị to lớn của kế toán xanh mang lại cho sự phát triển bền vững ngày càng được mọi người nhận thức rõ ràng hơn, cụ thể hơn. Điều này đồng quan điểm với tác giả Rahman và cộng sự trong một nghiên cứu thực hiện năm 2020 thông qua việc khảo sát và phân tích 120 người bao gồm cả những chuyên gia và sinh viên.
Hay trong nghiên cứu của Farouk và cộng sự (2012), đã đề xuất áp dụng mô hình kế toán xanh của Michael John Jones tại các nước đang phát triển do họ nhận thấy những báo cáo trước đó về tính bền vững là chưa đủ căn cứ để đưa ra các quyết định liên quan đến ngân sách vốn. Mức độ áp dụng kế toán xanh có mỗi 17 quan hệ cùng chiều với tác động của doanh nghiệp lên môi trường, tức là khi doanh nghiệp càng chủ động vận dụng kế toán xanh thì càng giảm thiêu được những tác động xấu đến môi trường, cải thiện hơn trong hoạt động bảo vệ môi trường. Nghiên cứu của Maama và cộng sự (2019) cũng đưa ra kết luận tương tự. Kế toán xanh đã trở thành một phần không thê thiếu được đối với việc thực hiện hướng tới sự phát bền vững của mỗi tổ chức, doanh nghiệp.
Nghiên cứu của Fineda-Fischer và công sự năm 2019 cho thấy kế toán có vai trò quan trọng, các doanh nghiệp áp dụng kế toán xanh đề đánh giá hoạt động của mình tác động tiêu cực hay tích cực đến môi trường xã hội. Điều này cũng giống với kết quả của nhóm tác giả Tan và cộng sự (2020), Maia và cộng sự (2021). Ngoài ra kế toán xanh có thé được sử dụng dé đo lường, giám sát tac động đến môi trường va nâng cao nhận thức của cả người quản lý cũng như bộ phận nhân viên trong các tổ chức, doanh nghiệp về vấn đề bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Dé thực hiện tốt và vận dụng kế toán xanh tại các doanh nghiệp thì cần có sự phối hợp giữa tô chức, doanh nghiệp với cơ quan chính phủ, nhà nước (Uyarra, Flanagan, 2019).
Chính phủ cần thiết xây dựng những chính sách, ban hành những quy định dé hỗ trợ cho các doanh nghiệp khi vận dụng kế toán xanh (A framework for green accounting practices in Bangladesh, Chowdhury, 2020). Đồng quan điểm với kết quả của nhóm tác giả Barbu và cộng sự (2021).2 Nghiên cứu trong nước Kế toán xanh không chỉ là lĩnh vực được quan tâm tại các nước trên thế giới, mà tại Việt Nam, đây cũng là một lĩnh vực được ngày càng quan tâm. Kế toán xanh được chính phủ Việt Nam quan tâm bắt đầu từ những năm 1990 cũng là thời điểm các vẫn đề môi trường và bảo vệ tài nguyên được quan tâm tới. Tuy nhiên, nhận thức về kế toán xanh mới được nâng cao trong vài năm gần đây, cụ thể từ năm 2015 trở đi.
Các bài nghiên cứu liên quan đến kế toán xanh được thực hiện từ khoảng năm 2010 tập trung giới thiệu về kế toán xanh, sau đó các nghiên cứu không chỉ dừng lại ở việc cung cấp những thông tin, những lý thuyết đơn thuần về kế toán xanh, mà đã đề cập tới thực trạng áp dụng kế toán xanh của các 18 doanh nghiệp tại Việt Nam và đề xuất những giải pháp dé cải thiện, nâng cao hiệu quả vận dụng kế toán xanh.