Chương 1: Giới thiệu Chương này giới thiệu một cách tổng quan về luận văn: lý do hình thành đề tài; mục tiêu nghiên cứu; phạm vi nghiên cứu; ý nghĩa thực tiễn; bố cục của khóa luận. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương này trình bày các khái niệm, nền tảng lý thuyết có liên quan đến nghiên cứu và những áp dụng về Lean trong thực tế Chương 3: Giới thiệu công ty và phân tích thực trạng giao hàng tại Quang lượng tử Việt – Mỹ Chương này trình bày tổng quan về quá trình hình thành công ty và phân tích chi tiết thực trạng giao hàng của công ty và những nguyên nhân gây trễ hạn. Chương 4: Đánh giá các loại lãng phí ảnh hưởng đến thời gian giao hàng và đề ra biện pháp cải tiến Chương này phân tích chi tiết từng nguyên nhân gây ra lãng phí làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến thời gian giao hàng, đồng thời đưa ra những biện pháp giải quyết. Chương 5: Kết luận và kiến nghị.
Chương này trình bày các kết quả chính của đề tài, đồng thời đưa ra kiến nghị các chính sách hỗ trợ triển khai giải pháp. Bên cạnh đó tác giả cũng trình bày những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo cho đề tài.1 Khái niệm về Lead time và Lean Thời gian giao hàng (Lead time) chính là khoảng thời gian từ lúc nhà sản xuất nhận đơn đặt hàng cho đến lúc giao hàng cho khách hàng. Khả năng giao hàng đúng hẹn cũng thể hiện mưsc độ uy tín của nhà sản xuất. Và hiện nay, các nhà sản xuất trên thế giới đều áp dụng mô hình Lean (hay Lean manufaturing) để kiểm soát và cải tiến thời gian giao hàng (lead time).
Cụ thể, Theo báo cáo của Mekong Capital (2004), Lean Manufacturing là một nhóm các phương pháp, hiện đang được áp dụng ngày càng rộng rãi trên khắp thế giới, nhằm loại bỏ lãng phí và những bất hợp lý trong quá trình sản xuất, để có chi phí thấp hơn và tính cạnh tranh cao hơn cho nhà sản xuất. Thuật ngữ “Lean Manufacturing” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1990, trong cuốn “The Machine that Changed the World” của tác giả James Womack, Daniel Jones và Danile Roos. Hệ thống sản xuất tinh gọn là một hệ thống các công cụ và phương pháp nhằm liên tục loại bỏ tất cả những lãng phí trong quá trình sản xuất. Lợi ích chính của hệ thống này là giảm chi phí sản xuất, tăng cường sản lượng và rút ngắn thời gian sản xuất dẫn đến xây dựng hệ thống sản xuất không có dư thừa.
Bùi Nguyên Hùng (2011) có viết rằng phương pháp sản xuất tinh gọn không phải là một kỹ thuật mới, sự thật nó là sự kết hợp nhiều kỹ thuật sản xuất đã sử dụng trong quá khứ và cũng khá quen thuộc. Sự khác biệt chính là sự thống nhất và tích hợp những kỹ thuật này vào một phương pháp mạnh và cách ứng dụng của nó. Để đạt được những mục tiêu của Lean, người ta dùng một phương pháp của sản xuất tinh gọn là kỹ thuật cân bằng chuyền, được sử dụng trong việc liên kết thành một chuỗi thông qua hệ thống Kanban. Mô hình tính đoán được tạo ra và lặp lại cho tới khi tận dụng được các nguồn lực sản xuất một cách tối ưu được xác định.2 Mục tiêu của Lean Mục tiêu của Lean là làm sao với cùng một mức sản lượng đầu ra nhưng có lượng đầu vào ít hơn – thời gian ít hơn, mặt bằng ít hơn, nhân công ít hơn, máy móc ít hơn và chi phí ít hơn.
Các mục tiêu cụ thể của Lean: 6 Giảm phế phẩm và các lãng phí hữu hình không cần thiết, bao gồm sử dụng vượt định mức nguyên vật liệu đầu vào, phế phẩm có thể ngăn ngừa, chi phí có liên quan tới tái chế phế phẩm, các tính năng trên sản phẩm vốn không được khách hàng yêu cầu. Giảm thời gian quy trình và cả chu kỳ sản xuất bằng cách giảm thiểu thời gian chờ đợi giữa các công đoạn, cũng như thời gian chuẩn bị cho quy trình và thời gian chuyển đổi mẫu mã hay quy cách sản phẩm. Giảm thiểu mức tồn kho ở tất cả các công đoạn, nhất là sản phẩm dở dang giữa các công đoạn. Mức tồn kho thấp hơn đồng nghĩa với yêu cầu vốn lưu động ít hơn.
Cải thiện năng suất lao động bằng cách giảm thời gian nhàn rỗi của công nhân, đồng thời đảm bảo công nhân đạt được năng suất cao nhất trong thời gian làm việc (không thực hiện những thao tác hay công việc không cần thiết). Sử dụng thiết bị và mặt bằng sản xuất có hiệu quả hơn bằng cách loại bỏ các trường hợp ùn tắc và tối đa hiệu suất sản xuất trên các thiết bị hiện có, đồng thời giảm thiểu thời gian dừng máy. Tính linh động là có khả năng sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau một cách linh động hơn với chi phí và thời gian chuyển đổi thấp. Tăng sản lượng là nếu có thể giảm chu kỳ sản xuất, tăng năng suất lao động, giảm thiểu ùn tắc và thời gian dừng máy, công ty có thể tăng sản lượng một cách đáng kể từ cơ sở vật chất hiện có.3 Nguyên tắc chính trong Lean Lean được áp dụng lần đầu tiên ở công ty Toyota vào những năm 50 của thế kỷ trước nhưng mãi đến đầu những năm 1990 phương pháp này mới được đúc kết và phổ biến ở Mỹ.
Các nguyên tắc chủ yếu của Lean được tóm tắt như sau: Nhận thức về sự lãng phí: bước đầu tiên nhận thức về những gì có và những gì không làm tăng thêm giá trị từ góc độ khách hàng. Bất kỳ vật liệu hay quy trình tính năng 7 nào không tạo thêm giá trị gia tăng theo quan điểm của khách hàng được xem là thừa và nên loại bỏ. Chuẩn hoá quy trình: Lean đòi hỏi việc các hướng dẫn chi tiết cho sản xuất, gọi là quy trình chuẩn, trong đó ghi rõ nội dung, trình tự, thời gian và tất cả các thao tác do công nhân thưc hiện. Điều này giúp loại bỏ sự khác biệt trong cách các thao tác do công nhân thực hiện công việc.
Quy trình liên tục: Lean thường nhằm tới khai thác một quy trình sản xuất liên tục, không bị ùn tắc, gián đoạn, vòng vèo, chờ đợi. Khi thực hiện thành công thời gian chu kỳ sẽ giảm đi. Sản xuất "Pull": còn gọi là JustinTime (JIT), sản xuất Pull chủ trương chỉ sản xuất những gì cần và vào lúc cần đến. Sản xuất được diễn ra dưới tác động của công đoạn sau, nên mỗi phân xưởng chỉ sản xuất theo yêu cầu của công đoạn kế tiếp.
Chất lượng từ gốc: Lean nhằm tới việc loại trừ phế phẩm từ gốc và việc kiểm soát chất lượng được thực hiện bởi các công nhân như một phần công việc trong quy trình sản xuất. Liên tục cải tiến: Lean đòi hỏi sự cố găng đạt đên sự hoàn thiện bằng cách không ngừng loại bỏ những lãng phí khi phát sinh chúng. Điều này đòi hỏi sự tham gia tích cực của công nhân trong quá trình cải tiến liên tục.4 Lợi ích của Lean Mục tiêu cốt lõi là giảm thiểu tối đa các loại lãng phí phát sinh trong quá trình sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, áp dụng lean sẽ giúp các doanh nghiệp sử dụng hiệu quả các nguồn lực sẵn có, gia tăng chất lượng sản phẩm đồng thời rút ngắn thời gian sản xuất và kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Theo bài báo tổng hợp “Hệ thống sản xuất tinh gọn Lean ( Lean Production System)” của nhóm tác giả từ Trung tâm Năng suất Việt Nam, những lợi ích chính của sản xuất tinh gọn bao gồm: Cải thiện năng suất và chất lượng sản phẩm, dịch vụ nhờ giảm thiểu tình trạng phế phẩm và các lãng phí, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu vào, giảm di chuyển, giảm các thao tác thừa trong quá trình làm việc/vận hành. 8 Rút ngắn thời gian: Rút ngắn chu trình sản xuất và cung cấp dịch vụ (cycle time), rút ngắn thời gian chuẩn bị cho quá trình sản xuất (setup time) và thời gian chuyển đổi việc sản xuất các sản phẩm khác nhau (changeover time). Giảm thiểu lãng phí hữu hình và vô hình do tồn kho quá mức cần thiết, kể cả tồn kho bán thành phẩm dang dở giữa các công đoạn (WIP/ WorkInProcess) lẫn thành phẩm nhờ vận dụng nguyên lý JIT. Nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị, mặt bằng.
Tăng khả năng đối ứng một cách linh hoạt, đồng thời giảm thiểu áp lực lên các nguồn lực đầu vào (con người, thiết bị) trước các yêu cầu đa dạng của thị trường. Khả năng giao hàng đúng hạn theo đó cũng sẽ được đảm bảo. Cụ thể hơn, Aza Badurdeen (2007) chỉ ra rằng nếu một công ty áp dụng sản xuất tinh gọn, nó có thể: Giảm thời gian sản xuất chính ít nhất 50% (một vài báo cáo còn cho rằng con số này có thể giảm tới 90%) Giảm chi phí sản xuất dang dở (WIP) tới 80% Tiết kiệm mặt bằng sản xuất trên mỗi máy khoảng 30% (đôi khi, nhiều hơn 50%) Tăng năng suất ít nhất 30% ( thậm chí là hơn 100% trong một vài trường hợp) Giảm chi phí sản xuất chung 2.5 Việc tạo ra giá trị và sự lãng phí Trong sản xuất theo LEAN, giá trị của một sản phẩm chính là những gì khách hàng yêu cầu và sẵn lòng trả tiền để có được. Chúng được chia thành ba nhóm sau: Hoạt động tạo ta giá trị tăng thêm (Valueadded activities) là loại hoạt động làm cho vật tư trở thành đúng với loại hàng hóa mà khách hàng yêu cầu.
Hoạt động không tạo ra giá trị tăng thêm (Non Valueadded activities) là loại hoạt động không tạo ra được giá trị của sản phẩm. Hay nói cách khác, chúng chính là những hoạt động thừa, gây lãng phí về mặt nhân công, thời gian. Khách hàng không sẵn lòng trả tiền cho những loại hoạt động này. Chúng ta cần phải loại bỏ những hoạt động không tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm.
9 Hoạt động cần thiết nhưng không tạo ra giá trị tăng thêm (Necessary non value added activities) là loại hoạt động khách hàng không yêu cầu, không trả tiền nhưng lại cần thiết cho quá trình sản xuất. Loại hoạt động này cần cắt giảm càng nhiều càng tốt để giảm tối đa chi phí sản xuất.6 Các loại lãng phí cơ bản trong sản xuất kinh doanh Konarskos (2010) định nghĩa lãng phí là những hoạt động sử dụng chi phí, nguồn lực nhưng không tạo ra giá trị cho khách hàng.