CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM 1. Một số khái niệm cơ bản về năng lực cạnh tranh sản phẩm 1. Cạnh tranh Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là hiện tượng phổ biến và có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế ở các quốc gia. Việc nghiên cứu hiện tượng cạnh tranh đã từ rất sớm với các trường phái nổi tiếng như: lý thuyết cạnh tranh cổ điển, lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển và lý thuyết cạnh tranh hiện đại.
Theo Michael Porter (1996): Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. LV quản trị kinh doanh Theo Samuelson (1986): Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng.
Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường và là năng lực phát triển của nền kinh tế thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh quyết định sự sống còn của mỗi doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau thông qua yếu tố giá cả, chất lượng, dịch vụ… nhằm thu lợi nhuận, lôi kéo khách hàng, mở rộng thị phần và nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên thị trường… Như vậy, cùng với việc đáp ứng sự thay đổi nhu cầu tiêu dùng theo hướng ngày càng đa dạng mà các doanh nghiệp cũng không ngừng nghiên cứu, phát triển sản phẩm, ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất, cắt giảm chi phí, phát triển kênh phân phối… góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện của nền kinh tế thị trường. Đối với xã hội, cạnh tranh là động lực quan trọng nhất để huy động nguồn lực của xã hội vào SXKD hàng hoá, dịch vụ còn thiếu, qua đó nâng cao năng lực sản xuất của toàn xã hội.
Trong cạnh tranh, các doanh nghiệp yếu kém bị đào thải, doanh nghiệp mới xuất hiện, doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả sẽ tiếp tục tồn tại và 8 phát triển, nhờ đó nguồn lực xã hội được sử dụng hợp lý, là cơ sở, là tiền đề cho sự thành công trong việc tăng trưởng nền kinh tế. Từ các khái niệm trên, theo tác giả có thể hiểu một cách thống nhất về thuật ngữ “Cạnh tranh” như sau: Cạnh tranh là tập hợp những hành vi nhằm giành lấy những lợi thế để thực hiện được các phương án kinh doanh thu được lợi nhuận cao nhất trong những điều kiện khách quan cụ thể nhất định. Năng lực cạnh tranh Trong từ điển tiếng Việt định nghĩa như sau: “Năng lực cạnh tranh là khả năng giành được thắng lợi trong cuộc cạnh tranh của những hàng hóa cùng loại, trên cùng một thị trường tiêu thụ”. Nhìn chung năng lực cạnh tranh có thể phân biệt theo các cấp độ: Năng lực cạnh tranh của quốc gia, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ.
Năng lực cạnh tranh của quốc gia: Là khả năng của một đất nước trong việc LV quản trị kinh doanh nhận rõ mục đích của chính sách kinh tế tập trung nhất là đối với tăng cường thu nhập và việc làm mà không gặp khó khăn trong cán cân thanh toán. Năng lực cạnh tranh quốc gia phụ thuộc vào khả năng khai thác cơ hội trên thị trường quốc tế. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Là khả năng bù đắp chi phí duy trì lợi nhuận và được đo bằng thị phần sản phẩm và dịch vụ doanh nghiệp trên thị trường. Theo đó doanh nghiệp có chi phí càng thấp, lợi nhuận và thị phần càng cao thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đó càng lớn và ngược lại.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ: Là khả năng thỏa mãn tốt các nhu cầu, mong muốn của khách hàng, nó được thể hiện bằng việc khách hàng lựa chọn sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của mình. Do đó sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao là sản phẩm có chất lượng tốt, giá cả hạ và sự tiện lợi cho khách hàng. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nói chung, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng bao gồm thêm nhiều nhân tố mới. Nhiều nhân tố như khả năng nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ, trình độ cán bộ quản lý, uy tín doanh nghiệp, khả năng nghiên cứu đối thủ cạnh tranh, vị thế của doanh nghiệp trên thị trường.
ngày nay càng được coi trọng. Nắm được xu thế phát triển tất yếu này, 9 doanh nghiệp sẽ có khả năng phát huy tối đa năng lực của mình để giành giật thị phần trên thị trường. Sự thành công của doanh nghiệp chiếm lĩnh được một mảng thị trường lớn đều xuất phát từ chính mỗi năng lực cạnh tranh của từng sản phẩm. Mỗi một sản phẩm của doanh nghiệp đưa ra có chỗ đứng trên thị trường cạnh tranh được với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh tốt thì doanh nghiệp mới phát triển được.
Vì vậy khi nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của sản phẩm cần so sánh mối quan hệ giữa sản phẩm đó với các nhân tố tác động từ bản thân các chính sách của doanh nghiệp cũng như từ sự cạnh tranh của các sản phẩm cùng loại trên thị trường. Từ đó đưa ra các biện pháp thích hợp. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm Năng lực cạnh tranh của một sản phẩm là sự thể hiện thông qua các lợi thế so sánh đối với sản phẩm cùng loại. Lợi thế so sánh của một sản phẩm bao hàm các yếu tố bên trong và bên ngoài tạo nên như năng lực sản xuất, chi phí sản xuất, chất lượng sản phẩm, dung lượng thị trường của sản phẩm.
Khi nói sản phẩm A do LV quản trị kinh doanh doanh nghiệp B sản xuất có năng lực cạnh tranh hơn sản phẩm A do doanh nghiệp C sản xuất là nói đến những lợi thế vượt trội của sản phẩm do doanh nghiệp B sản xuất như doanh nghiệp này có năng lực sản xuất lớn hơn, có chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm thấp hơn, sản phẩm có chất lượng cao hơn, có dung lượng thị trường được chiếm lĩnh lớn hơn. Còn nếu so sánh với sản phẩm cùng loại nhập khẩu thì yếu tố lợi thế được thể hiện cơ bản qua giá bán sản phẩm, giá trị sử dụng của sản phẩm và một phần không nhỏ là tâm lý tiêu dùng. Như vậy, có thể thấy khái niệm năng lực cạnh tranh là một khái niệm động, được cấu thành bởi nhiều yếu tố và chịu sự tác động của cả môi trường vi mô và vĩ mô. Một sản phẩm có thể năm nay được đánh giá là có năng lực cạnh tranh, nhưng năm sau, hoặc năm sau nữa lại không còn năng lực cạnh tranh nếu không giữ được các yếu tố lợi thế.
Một sản phẩm được coi là có sức cạnh tranh và có thể đứng vững khi có mức giá thấp hơn hoặc khi cung cấp các sản phẩm tương tự với chất lượng hay dịch vụ ngang bằng hay cao hơn. Theo lý thuyết thương mại truyền thống, năng lực cạnh tranh được xem xét qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất lao động. Porter (2009), năng lực cạnh tranh phụ thuộc vào khả năng khai thác các năng lực độc đáo của mình để tạo sản phẩm có giá phí thấp và sự dị biệt của sản phẩm. Muốn nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải xác định lợi thế cạnh tranh của mình và sử dụng lợi thế cạnh tranh đó để chiến thắng đối thủ cạnh tranh.
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm 1. Các yếu tố môi trường vĩ mô (1) Chính trị pháp luật Một thể chế chính trị, một hệ thống pháp luật chặt chẽ, rõ ràng, mở rộng và ổn định sẽ làm cơ sở cho sự bảo đảm điều kiện thuận lợi và bình đẳng cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh lành mạnh, đạt hiệu quả cao cho doanh nghiệp và xã hội. Thể hiện rõ nhất là các chính sách bảo hộ mậu dịch tự do, các chính sách tài chính, những quan điểm trong lĩnh vực nhập khẩu, các chương trình quốc gia, chế LV quản trị kinh doanh độ tiền lương, trợ cấp, phụ cấp cho người lao động. Các nhân tố này đều ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
(2) Yếu tố kinh tế Các nhân tố về mặt kinh tế có vai trò rất quan trọng, quyết định đến việc hình thành và hoàn thiện môi trường kinh doanh, đồng thời ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Các nhân tố kinh tế gồm có: Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Nền kinh tế tăng trưởng cao và ổn định sẽ làm cho thu nhập của tầng lớp dân cư tăng dẫn đến sức mua hàng hóa và dịch vụ tăng lên. Đây là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng tạo nên sự thành công trong kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao và ổn định kéo theo hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đạt hiệu quả cao, khả năng tích tụ và tập trung sản xuất cao.
Tỷ giá hối đoái: Đây là nhân tố tác động nhanh chóng và sâu sắc với từng quốc gia và từng doanh nghiệp nhất là trong điều kiện nền kinh tế mở cửa khi đồng nội tệ lên, giá sẽ khuyến khích nhập khẩu và khả năng cạnh tranh của các doanh 11 nghiệp trong nước sẽ giảm trên thị trường nội địa. Các doanh nghiệp trong nước mất dần cơ hội mở rộng thị trường, phát triển SXKD. Ngược lại, khi đồng nội tệ giảm, giá dẫn đến xuất khẩu tăng cơ hội SXKD của các doanh nghiệp trong nước tăng, khả năng cạnh tranh cao hơn ở thị trường trong nước và quốc tế bởi khi đó giá bán hàng hóa trong nước giảm hơn so với đối thủ cạnh tranh nước ngoài. Lãi suất cho vay của ngân hàng: Nếu lãi suất cho vay cao dẫn đến chi phí kinh doanh của doanh nghiệp cao, điều này làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhất là khi so với doanh nghiệp có tiềm lực vốn sở hữu mạnh.
Lạm phát: Lạm phát cao các doanh nghiệp sẽ không đầu tư vào SXKD, đặc biệt là đầu tư tái sản xuất mở rộng và đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất của doanh nghiệp vì các doanh nghiệp sợ không đảm bảo về mặt hiện vật các tài sản, không có khả năng thu hồi vốn sản xuất hơn nữa, rủi ro kinh doanh khi xẩy ra lạm phát rất lớn.