CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO 1. Rủi ro trong hoạt động của doanh nghiệp 1. Định nghĩa chung về rủi ro "Rủi ro” là gì? Cho đến nay chưa có được định nghĩa thống nhất về rủi ro. Nhiều nhà kinh tế và nhà kinh doanh bảo hiểm trên thế giới và của Việt Nam đã nghiên cứu và đưa ra một số định nghĩa, khái niệm về rủi ro: Frank Knight, một học giả Mỹ định nghĩa: “Rủi ro là những bất trắc có thể đo lường được”.
Theo ông, các loại bất trắc không thể đo lường được coi là bất trắc, có thể đo lường được gọi là rủi ro. Nghĩa là tiếp cận của ông liên quan đến khả năng đo lường được hoặc không được của bất trắc. Allan Willett, một học giả người Mỹ khác cho rằng: “Rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến một biến cố không mong đợi”. Như vậy cách tiếp cận của ông liên quan đến thái độ của con người.
Những biến cố ngoài sự mong đợi chính là rủi ro, còn những biến cố mong đợi không phải là rủi ro. Điều này đã giải thích cho rủi ro đối xứng, hoặc rủi ro suy đoán liên quan tới một sự thành bại của một sự kiện diễn ra. Thành công của con người này chính là thất bại (rủi ro) của người khác. Inrving Pferfer (Mỹ) lại cho rằng: “Rủi ro là tổng hợp của những sự ngẫu nhiên có thể đo lường bằng xác suất”.
Theo ông, rủi ro gắn với sự hiện diện ngẫu nhiên của vạn vật, hiện tượng mà có thể đo lường bằng xác suất. Tức là rủi ro là sự ngẫu nhiên không phụ thuộc vào ý chí của con người. Tuy nhiên, điều đó không hoàn toàn đúng bởi nhiều loại rủi ro chính là hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp do người gay ra. Theo cuốn Từ điển Kinh tế học hiện đại:“ Rủi ro là hoàn cảnh trong đó một sự kiện xảy ra với một xác suất nhất định hoặc trong trường hợp quy mô của sự kiện đó có một phân phối xác suất”.
7 Ông Nguyễn Hữu Thân cho rằng: “Rủi ro là sự bất trắc gây ra mất mát thiệt hại”. Như vậy rủi ro phải là bất trắc gây hậu quả cho con người. Còn những bất trắc không gây hậu quả không phải là rủi ro. Những trường phái khác nhau, các tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau.
Những định nghĩa này rất phong phú và đa dạng, nhưng tập trung lại có thể chia thành hai trường phái lớn. - Theo trường phái truyền thống, rủi ro được xem là sự không may mắn, sự tổn thất mất mát, nguy hiểm. Nó được xem là điều không lành, điều không tốt, bất ngờ xảy đến. Đó là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến.
Rủi ro còn được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Tóm lại, theo quan điểm này thì rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người. - Theo trường phái hiện đại, rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực. Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội.
Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai. - Trong hoạt động của doanh nghiệp, rủi ro là khả năng xảy ra sự kiện không mong đợi tác động ngược với thu nhập và vốn đầu tư. Thông thường người ta cho rằng rủi ro là khả năng xuất hiện các khoản thiệt hại tài chính. Các trường hợp rủi ro được khái quát hóa bằng sự hiện diện của những tình huống không chắc chắn, mà nguyên nhân chủ yếu có thể là do lạm phát, do biến động lãi suất, tỷ giá, giá cả hàng hóa, hoặc do đánh giá sai các khả năng tình huống xảy ra, hoặc do quyết định đầu tư không thích hợp, hoặc cũng có thể do các yếu tố chính trị, xã hội và môi trường kinh doanh thay đổi.
Như vậy, "Rủi ro là những điều không chắc chắn của những kết quả trong tương lai hay là những khả năng của kết quả bất lợi"[8]. Định nghĩa rủi ro tài chính. Rủi ro tài chính là rủi ro phát sinh từ độ nhạy cảm của các nhân tố giá cả thị trường như lãi suất, tỷ giá, giá cả hàng hóa, chứng khoán và những rủi ro do doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính - sử dụng nguồn vốn vay - trong kinh doanh, tác động đến thu nhập của doanh nghiệp. "Rủi ro tài chính chỉ tính khả biến tăng thêm của thu nhập mỗi cổ phần và xác suất mất khả năng chi trả xảy ra khi một doanh nghiệp sử dụng các nguồn tài trợ có chi phí tài chính cố định, như nợ và cổ phần ưu đãi, trong cấu trúc vốn của mình"[10].
Các rủi ro tài chính cơ bản thường xảy ra là: Sai sót trong quản lý dòng tiền dẫn tới thiếu tiền vào thời điểm cấp bách, tổn thất do tỷ giá hối đoái thay đổi bất thường, lựa chọn sai nguồn tiền cần sử dụng làm tăng chi phí tài chính, giảm sự đầu tư, rủi ro liên quan tới doanh thu,. Chẳng hạn rủi ro hối đoái là hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp bị tác động bởi những thay đổi trong tỷ giá. Loại rủi ro này dễ xảy ra ở các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Đối với doanh nghiệp nhập khẩu rủi ro xảy ra khi ngoại tệ đơn vị phải trả trong tương lai lên giá so với nội tệ, còn với doanh nghiệp xuất khẩu sẽ ngược lại khi ngoại tệ sẽ nhận trong tương lai giảm giá so với nội tệ.
Các loại rủi ro phổ biến đối với DNTMNVV a) Rủi ro lãi suất. Trong hoạt động kinh doanh, hầu như tất cả các doanh nghiệp đều phải sử dụng vốn vay. Khi lập kế hoạch kinh doanh, tuy lãi suất tiền vay đã được dự tính, song có rất nhiều nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp tác động đến lãi suất tiền vay. Chẳng hạn khi lạm phát xảy ra, lãi suất tiền vay tăng đột biến, những tính toán, dự kiến trong kế hoạch kinh doanh ban đầu bị đảo lộn.
Tùy thuộc vào lượng tiền vay của doanh nghiệp, mức độ tiêu cực của rủi ro lãi suất cũng sẽ khác nhau. 9 b) Rủi ro tỷ giá. Rủi ro tỷ giá là sự thay đổi tỷ giá ngoại tệ mà doanh nghiệp không thể dự báo trước. Trong trường hợp các giao dịch của doanh nghiệp thực hiện trên cơ sở tỷ giá ngoại tệ mà hàng hóa đã được định giá trước, khi tỷ giá có sự biến động có thể tạo ra rủi ro dẫn đến thua lỗ.
Tùy theo quy mô sử dụng ngoại tệ, doanh nghiệp có thể chịu số lỗ do rủi ro về tỷ giá nhiều hay ít. c) Rủi ro biến động giá cả hàng hóa. Đối với các doanh nghiệp có các giao dich mua, bán hàng theo theo hợp đồng cố định giá trong một thời gian dài, rủi ro biến động giá cả hàng hóa có thể sẽ là một rủi ro lớn. Đặc biệt trong trường hợp nền kinh tế có tỷ lệ lạm phát cao, giá cả hàng hóa thay đổi hàng ngày.
Đối với một số doanh nghiệp hàng hóa thường được ký hợp đồng theo đơn hàng trước khi nhập hàng, khi giá cả biến động, hàng hóa đầu vào tăng, nhưng giá bán sản phẩm đã cố định từ trước, nguy cơ thua lỗ là rất lớn. d) Rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng là tính không chắc chắn và tiềm ẩn về khoản lỗ do không có khả năng thanh toán của bên đối tác. Rủi ro tín dụng có thể từ nguyên nhân vì các đối tác không thực hiện đầy đủ trách nhiệm pháp lý, chẳng hạn như lẽ ra phải thanh toán tiền mua hàng, nhưng lại không thanh toán đúng hạn, hoặc thanh toán không đầy đủ, hoặc thậm chí từ chối thanh toán vì nhiều lý do.
Ở nước ta, do đặc điểm của nền kinh tế đang chuyển đổi, các DNTMNVV có đặc tính không ổn định cao, nhiều DNTMNVV sau một thời gian hoạt động đã bị phá sản, thậm chí “biến mất”. Điều này cũng làm gia tăng rủi ro tín dụng. Mặt khác tỉ lệ lạm phát cao cũng góp phần gia tăng rủi ro tín dụng. Một trở ngại lớn mà DNTMNVV phải đối diện đó là không tìm được sự tài trợ tài chính từ các nguồn tín dụng tin cậy, lãi suất hợp lý.
Do thiếu vốn để hoạt động, có khi DNTMNVV phải tìm đến các khoản tín dụng “đen” như hoạt động cho vay nặng lãi, đây là một trong những rủi ro lớn mà các DNTMNVV thường phải đối mặt. 10 e) Rủi ro năng lực kinh doanh. Rủi ro năng lực kinh doanh là những rủi ro xảy ra do sự thiếu hiểu biết về các kỹ năng giao dịch kinh doanh của doanh nghiệp. Rủi ro này phần lớn thuộc về những yếu tố chủ quan trong nội bộ doanh nghiệp.
Các nhân tố có thể dẫn đến rủi ro này bao gồm: Thiếu kỹ năng doanh nhân, nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, mô hình hoạt động, kỹ năng quản trị của doanh nghiệp chưa hoàn toàn thích hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường. Hầu hết các công việc: Quản lý doanh nghiệp, tổ chức điều hành hoạt động doanh nghiệp, công tác kế hoạch, marketing, kế toán, kỹ năng động viên… đều chưa đạt được trình độ chuyên nghiệp. Một bộ phận khá lớn DNTMNVV ở nước ta nói chung và Thành Phố Huế nói riêng ra đời từ kết quả của sự lựa chọn bắt buộc: Một bộ phận lớn những người bị mất việc làm trong quá trình đổi mới, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, bị tinh giản biên chế, chỉ với chút vốn ít ỏi cả về tài chính và kinh nghiệm kinh doanh đã đứng ra thành lập nên doanh nghiệp. Do vậy kỹ năng doanh nhân của các doanh nghiệp rất yếu.
Điều này tạo nên nhiều rủi ro trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Sự hiểu biết nghèo nàn về tính năng động thị trường. Hiểu biết tính năng động thị trường là nhân tố chủ yếu để khởi đầu một hoạt động kinh doanh mới.