Tổng quan nghiên cứu

Hoạt động sản xuất và kinh doanh trong ngành vật liệu xây dựng tại Việt Nam luôn chịu tác động mạnh mẽ từ các biến động kinh tế vĩ mô và tính bất định của thị trường. Công ty Cổ phần Xi măng Cẩm Phả là một trong những doanh nghiệp quy mô lớn với tổng vốn đầu tư ban đầu gần 7.000 tỷ đồng, sở hữu mạng lưới tiêu thụ rộng khắp với hơn 100 nhà phân phối chính thức tại 64 tỉnh thành trên cả nước. Tuy nhiên, sau giai đoạn biến động tài chính phức tạp khiến công ty mẹ phải bù lỗ hơn 2.393 tỷ đồng vào năm 2012 và sau đó được Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội tái cơ cấu từ cuối năm 2013, yêu cầu thiết lập một hệ thống quản trị rủi ro bài bản trở thành vấn đề sống còn.

Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu tập trung vào việc nhận diện, đo lường và kiểm soát các mối hiểm họa tiềm ẩn trong toàn bộ chuỗi giá trị của doanh nghiệp, từ khâu khai thác nguyên liệu, vận hành dây chuyền sản xuất công suất 6.300 tấn xi măng mỗi ngày, cho đến khâu phân phối và xuất khẩu. Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản trị rủi ro doanh nghiệp, phân tích thực trạng quản trị rủi ro tại Công ty Cổ phần Xi măng Cẩm Phả giai đoạn 2015 - 2017, từ đó xây dựng các giải pháp hoàn thiện có tính khả thi cao.

Phạm vi nghiên cứu được xác định tại trụ sở chính, nhà máy tại tỉnh Quảng Ninh cùng trạm nghiền tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong khung thời gian 3 năm từ 2015 đến 2017. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp căn cứ khoa học giúp doanh nghiệp bảo vệ tổng nguồn vốn kinh doanh 5.034 tỷ đồng, kiểm soát chi phí tài chính hàng năm ở mức hơn 227 tỷ đồng, duy trì lợi nhuận sau thuế ổn định trên 1,517 tỷ đồng và đảm bảo việc làm cho gần 1.000 lao động.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của hai nền tảng lý thuyết quản trị hiện đại. Thứ nhất là Lý thuyết Quản trị Rủi ro Doanh nghiệp của tác giả Olaf Passenheim năm 2010, tiếp cận rủi ro theo quy trình hệ thống khép kín gồm nhận dạng, phân tích, phản ứng đối phó và kiểm soát rủi ro. Thứ hai là Lý thuyết Kinh tế về Rủi ro và Bảo hiểm của Alan H. Willett năm 1951, kết hợp cùng khung lý thuyết quản trị rủi ro toàn diện của các nhà nghiên cứu kinh tế tại Việt Nam năm 2013, xem rủi ro là sự bất định có thể đo lường và lượng hóa thành tổn thất.

Mô hình nghiên cứu triển khai quy trình 4 giai đoạn kế tiếp nhau gồm: nhận dạng rủi ro, phân tích rủi ro, kiểm soát rủi ro và tài trợ rủi ro. Nghiên cứu vận dụng 5 khái niệm chuyên ngành nền tảng:

  • Tần suất rủi ro: thước đo số lần xuất hiện biến cố trong một chu kỳ quan sát.
  • Biên độ rủi ro: quy mô thiệt hại tài chính hoặc phi tài chính khi biến cố xảy ra.
  • Rủi ro thuần túy: biến cố chỉ mang lại tổn thất mà không có cơ hội sinh lời.
  • Rủi ro suy đoán: rủi ro gắn liền với các quyết định kinh doanh có khả năng tạo ra lợi nhuận hoặc tổn thất.
  • Tài trợ rủi ro: hệ thống các biện pháp cung ứng nguồn lực tài chính trước và sau tổn thất nhằm duy trì khả năng hoạt động liên tục của tổ chức.

Khung phân tích này cho phép đánh giá toàn diện 8 nhóm yếu tố rủi ro môi trường bên ngoài gồm tự nhiên, xã hội, văn hóa, chính trị, kinh tế, pháp lý, đối tác, công nghệ, kết hợp cùng 4 yếu tố nội bộ doanh nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập trong suốt năm 2018. Dữ liệu thứ cấp bao gồm báo cáo tài chính kiểm toán, báo cáo thường niên giai đoạn 2015 - 2017 do phòng Tài chính và phòng Tổ chức - Chính trị của Công ty Cổ phần Xi măng Cẩm Phả cung cấp, kết hợp cùng số liệu thống kê vĩ mô tăng trưởng GDP 6,81% của Tổng cục Thống kê. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản lý và nhân viên tại các phòng ban tác nghiệp.

Cỡ mẫu khảo sát gồm 35 nhân sự, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu định ngạch kết hợp thuận tiện, phân bổ tại các bộ phận trọng yếu: Ban Giám đốc, phòng Kế hoạch, phòng Tài chính, phòng Logistics và các phân xưởng sản xuất. Việc lựa chọn phương pháp phân tích định tính kết hợp so sánh đối chiếu số liệu chuỗi thời gian 3 năm là hoàn toàn phù hợp, giúp lượng hóa chính xác sự dịch chuyển cơ cấu tài chính, đánh giá tương quan giữa doanh thu bán hàng 2.931 tỷ đồng và các khoản chi phí phát sinh, từ đó tìm ra nguyên nhân gốc rễ của các lỗ hổng quản trị rủi ro trong thực tế vận hành.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, rủi ro biến động giá cả và áp lực chi phí tài chính tạo ra thách thức lớn đối với hiệu quả kinh doanh. Năm 2016, doanh nghiệp xây dựng kế hoạch tăng giá bán xi măng từ 68.000 đồng lên 83.000 đồng mỗi bao trong năm 2017. Tuy nhiên, do thị trường bất động sản chững lại và áp lực cạnh tranh gay gắt từ các thương hiệu lớn trong ngành, giá bán thực tế không thể điều chỉnh tăng. Hệ quả là sản lượng tiêu thụ năm 2017 giảm 3% so với năm 2016. Mặc dù tổng doanh thu năm 2017 đạt 2.701 tỷ đồng (tăng nhẹ so với mức 2.632 tỷ đồng năm 2016), lợi nhuận thuần lại sụt giảm 5%. Gánh nặng chi phí tài chính lên tới 227,303 tỷ đồng cùng chi phí quản lý doanh nghiệp 63,178 tỷ đồng đã bào mòn phần lớn biên lợi nhuận, khiến lợi nhuận trước thuế chỉ đạt 2,147 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế đạt 1,517 tỷ đồng.

Thứ hai, rủi ro từ môi trường thiên nhiên ven biển gây thiệt hại trực tiếp đến tài sản và tiến độ sản xuất. Do vị trí nhà máy chính đặt sát bờ biển tại Cẩm Phả, Quảng Ninh, các đợt mưa bão lớn trong năm 2017 đã gây ngập cục bộ khu vực sản xuất và khu tập thể cán bộ công nhân viên, làm hư hại gần 400 tấn xi măng thành phẩm. Sự cố này buộc lực lượng lao động phải tổ chức làm tăng ca liên tục trong 15 ngày để khắc phục hậu quả, làm phát sinh thêm chi phí nhân công và giảm sút thể lực tái sản xuất của người lao động.

Thứ ba, rủi ro chuỗi cung ứng và vận tải đường bộ chiếm tỷ trọng cao nhưng chưa có cơ chế kiểm soát tối ưu. Hơn 80% khối lượng hàng hóa của công ty được phân phối qua mạng lưới giao thông đường bộ. Trong năm 2017, doanh nghiệp ghi nhận 3 sự cố chậm tiến độ giao hàng do phương tiện hỏng hóc giữa đường và thiếu nhiên liệu, buộc công ty phải chiết khấu bồi thường 10% giá trị hóa đơn và miễn phí vận chuyển cho đơn hàng tiếp theo. Đồng thời, nghiệp vụ logistics xuất khẩu cũng từng phát sinh sai sót chứng từ hải quan làm chậm trễ lịch trình tàu biển.

Thứ tư, công tác tổ chức bộ máy quản trị rủi ro còn phân tán và biến động nhân sự tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Doanh nghiệp chưa thành lập bộ phận chuyên trách về quản trị rủi ro, khiến việc nhận diện nguy cơ chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cảm tính của các nhà quản trị. Trong tổng số gần 1.000 lao động (năm 2017 có 595 nam và 136 nữ tại các vị trí quan sát chính), đầu năm 2017 đã có 26 nhân sự xin nghỉ việc gồm 9 cán bộ văn phòng và 17 công nhân. Đáng chú ý, tỷ lệ lao động nữ nghỉ việc chiếm tới 73% tổng số người nghỉ, đòi hỏi công ty phải tổ chức tuyển dụng bổ sung gấp vào tháng 2/2017.

Thảo luận kết quả

Thực trạng quản trị rủi ro tại Công ty Cổ phần Xi măng Cẩm Phả phản ánh tư duy quản trị mang tính bị động và xử lý tình huống sau khi tổn thất đã phát sinh. Doanh nghiệp chưa xây dựng được ma trận đánh giá rủi ro dựa trên hai trục tọa độ tần suất và biên độ rủi ro, dẫn đến việc các sự cố điển hình như thiên tai ngập lụt hay chậm trễ vận tải lặp lại qua các năm mà không có giải pháp triệt tiêu tận gốc.

Cơ cấu nguồn vốn kinh doanh năm 2017 cho thấy sự mất cân đối lớn khi vốn cố định và đầu tư dài hạn chiếm tới 73,21% (tương đương hơn 4.050 tỷ đồng), trong khi vốn lưu động chỉ chiếm 26,79% (đạt 983,854 tỷ đồng). Tỷ trọng vốn lưu động thấp khiến doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc linh hoạt tài trợ rủi ro hoặc đầu tư công nghệ phòng ngừa tổn thất.

Khi so sánh với các nghiên cứu cùng thời kỳ tại các doanh nghiệp sản xuất vật liệu như Công ty Cổ phần Thạch Bàn Đan Phượng hay Công ty Cổ phần Nhựa Thống Nhất, điểm tương đồng nổi bật là các doanh nghiệp đều quá chú trọng vào mục tiêu tối đa hóa công suất kỹ thuật (như đạt đỉnh 6.300 tấn/ngày) mà xem nhẹ việc quản trị rủi ro dòng tiền và rủi ro hợp đồng. Dữ liệu nghiên cứu cho thấy sự cần thiết phải biểu diễn trực quan các chỉ số qua biểu đồ phân tích cơ cấu tài chính và bảng ma trận rủi ro hoạt động, nhằm giúp cấp lãnh đạo nhanh chóng phát hiện các biến động vượt ngưỡng kiểm soát.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thành lập Ban Kiểm soát và Quản trị rủi ro chuyên trách trực thuộc Hội đồng Quản trị trước quý II/2019. Đơn vị này có nhiệm vụ xây dựng bộ chỉ số cảnh báo rủi ro sớm (KRI), ban hành sổ tay nhận dạng hiểm họa cho từng phòng ban và duy trì tỷ lệ vốn lưu động tối thiểu ở mức 28% tổng nguồn vốn, nhằm đảm bảo khả năng thanh khoản cho các hoạt động sản xuất khẩn cấp.

Thứ hai, ứng dụng phần mềm quản lý rủi ro hiện đại như Synergi Life trong thời hạn 6 tháng kể từ khi phê duyệt đề án. Giải pháp công nghệ này cho phép số hóa dữ liệu vận hành, phân tích tự động nguyên nhân sự cố kỹ thuật và rút ngắn thời gian xử lý thông tin từ 5 ngày xuống dưới 24 giờ, giúp ban điều hành đưa ra các quyết định phòng ngừa chính xác đối với biến động giá vật tư đầu vào.

Thứ ba, chuẩn hóa quy trình kiểm soát rủi ro logistics và vận tải đường bộ nhằm đưa tỷ lệ giao hàng trễ hạn về mức 0% trong năm 2019. Doanh nghiệp cần ký hợp đồng bảo dưỡng định kỳ đối với 100% đội xe vận tải, áp dụng công nghệ định vị GPS giám sát hành trình nhiên liệu, đồng thời thiết lập quy trình kiểm tra chéo 2 bên đối với toàn bộ chứng từ xuất nhập khẩu trước khi hàng rời cảng.

Thứ tư, tái cơ cấu hoạt động tài trợ rủi ro thông qua việc trích lập quỹ dự phòng tài chính tương đương 5% đến 7% lợi nhuận sau thuế hàng năm. Doanh nghiệp cần chủ động mở rộng hợp đồng bảo hiểm tài sản kỹ thuật và bảo hiểm trách nhiệm bên thứ ba với các đơn vị bảo hiểm uy tín, chuyển giao tối thiểu 80% giá trị thiệt hại vật chất tiềm năng do thiên tai bão lũ gây ra đối với hệ thống kho bãi và nhà xưởng tại vùng ven biển Quảng Ninh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là Ban Lãnh đạo, Hội đồng Quản trị và các Giám đốc điều hành doanh nghiệp ngành sản xuất vật liệu xây dựng. Nghiên cứu cung cấp khung phương pháp luận thực chiến để xây dựng hệ thống phòng thủ rủi ro, giúp tối ưu hóa chuỗi cung ứng và giảm thiểu thiệt hại tài chính trong bối cảnh thị trường cạnh tranh quyết liệt.

Nhóm thứ hai là Chuyên viên Quản trị rủi ro, Kiểm soát nội bộ và Chuyên viên Tài chính doanh nghiệp. Luận văn cung cấp mô hình phân tích chi tiết cơ cấu vốn kinh doanh hơn 5.000 tỷ đồng, phương pháp tính toán chi phí tài chính và kỹ thuật thiết lập quỹ dự phòng rủi ro nội bộ hiệu quả.

Nhóm thứ ba là Giảng viên, Nghiên cứu sinh và Học viên Cao học ngành Quản trị Kinh doanh, Quản trị Doanh nghiệp. Tài liệu này đóng vai trò là một điển cứu chuyên sâu về quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp sản xuất sau khủng hoảng tài chính, làm tài liệu tham khảo cho các học phần Quản trị rủi ro và Quản trị chiến lược.

Nhóm thứ tư là Các đối tác cung ứng dịch vụ bảo hiểm, đơn vị logistics và nhà đầu tư tài chính. Thông qua các dữ liệu thực tế về tần suất sự cố vận tải và rủi ro thiên tai ven biển, các tổ chức này có thể thiết kế các gói sản phẩm bảo hiểm và giải pháp logistics tối ưu hóa cho ngành công nghiệp nặng.

Câu hỏi thường gặp

Quản trị rủi ro có vai trò sống còn như thế nào đối với doanh nghiệp sản xuất xi măng? Quản trị rủi ro giúp doanh nghiệp chủ động ứng phó trước các cú sốc thị trường, bảo toàn nguồn vốn kinh doanh hơn 5.034 tỷ đồng và hạn chế các khoản lỗ lớn phát sinh từ chi phí tài chính hoặc sự cố dây chuyền sản xuất công suất lớn.

Tại sao doanh nghiệp phải phân tích kết hợp cả tần suất và biên độ rủi ro? Tần suất phản ánh mức độ thường xuyên xuất hiện của rủi ro, còn biên độ thể hiện mức độ tổn thất tài chính. Việc kết hợp hai chỉ số này giúp doanh nghiệp phân loại chính xác mức độ nguy hiểm, từ đó ưu tiên nguồn lực xử lý các rủi ro có biên độ thiệt hại lớn.

Vị trí địa lý ven biển mang lại những rủi ro tự nhiên cụ thể nào cho nhà máy? Vị trí gần biển khiến nhà máy thường xuyên chịu ảnh hưởng trực tiếp từ bão lũ, dẫn đến nguy cơ ngập úng xưởng sản xuất, gây hư hỏng hàng trăm tấn xi măng thành phẩm và làm gián đoạn kế hoạch vận hành của người lao động.

Hoạt động tài trợ rủi ro trước tổn thất được triển khai bằng những công cụ nào? Doanh nghiệp thực hiện tài trợ rủi ro trước tổn thất chủ yếu qua việc trích lập quỹ dự phòng rủi ro từ lợi nhuận giữ lại, đồng thời ký kết các hợp đồng bảo hiểm tài sản và bảo hiểm lao động để chuyển giao nguy cơ tài chính cho bên thứ ba.

Làm thế nào để doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro chậm giao hàng trong vận chuyển đường bộ? Doanh nghiệp cần thiết lập quy chế kiểm định kỹ thuật xe nghiêm ngặt trước khi xuất bến, lắp đặt hệ thống giám sát hành trình GPS và phân bổ các trạm tiếp nhiên liệu đối tác cố định dọc theo 64 tỉnh thành phân phối.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về quản trị rủi ro doanh nghiệp theo quy trình chuẩn 4 giai đoạn gồm nhận dạng, phân tích, kiểm soát và tài trợ rủi ro.
  • Đánh giá toàn diện thực trạng quản trị rủi ro tại Công ty Cổ phần Xi măng Cẩm Phả giai đoạn 2015 - 2017 với quy mô nguồn vốn 5.034 tỷ đồng và hệ thống tiêu thụ tại 64 tỉnh thành.
  • Chỉ rõ các điểm nghẽn trọng yếu trong khâu nhận dạng thụ động, sự phụ thuộc vào 80% phương thức vận tải đường bộ và thiệt hại tài chính từ rủi ro thiên tai ven biển.
  • Xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ từ việc thành lập Ban Quản trị rủi ro độc lập, ứng dụng phần mềm Synergi Life đến trích lập quỹ dự phòng 5% đến 7% lợi nhuận sau thuế.
  • Khẳng định nâng cao năng lực quản trị rủi ro là điều kiện tiên quyết giúp doanh nghiệp vật liệu xây dựng duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững trong môi trường hội nhập.

Lộ trình triển khai các đề xuất cần được ban điều hành hoàn thiện và ban hành quy chế chính thức trong quý I/2019, tiến hành đánh giá hiệu quả định kỳ 6 tháng một lần. Các nhà quản trị doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nên nghiên cứu và vận dụng ngay khung giải pháp này để củng cố hệ thống kiểm soát nội bộ và tối ưu hóa hiệu quả kinh doanh.