Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng (Mã ngành: 9340201) của tác giả Phan Thùy Dương, được thực hiện tại Học viện Ngân hàng năm 2020 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Thị Hà và TS. Đỗ Thị Vân Trang, mang tên: "Quản trị rủi ro tài chính của các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam trên địa bàn thành phố Hà Nội".

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Sau cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu năm 2008, sự suy giảm khả năng thanh toán của hàng loạt tổ chức kinh tế đã bộc lộ những điểm yếu trong công tác quản trị rủi ro tài chính (QT RRTC). Tại Việt Nam, ngành xây dựng trải qua giai đoạn khó khăn rõ rệt: tốc độ tăng trưởng ngành đạt mức bình quân 9,6%/năm trong giai đoạn 2000–2009, nhưng giảm xuống còn 4,6%/năm trong giai đoạn 2009–2013. Nhiều doanh nghiệp xây dựng (DNXD) rơi vào tình trạng giải thể, phá sản do gánh nặng rủi ro tài chính chưa được kiểm soát toàn diện.

Hoạt động của các DNXD phụ thuộc lớn vào tăng trưởng kinh tế, giá cả nguyên vật liệu, lạm phát và lãi suất cho vay. Do đặc thù công trình thi công có quy mô vốn lớn và chu kỳ dài, nhu cầu sử dụng vốn vay tín dụng diễn ra thường xuyên, khiến DNXD luôn đối mặt với rủi ro lãi suất và rủi ro đòn bẩy tài chính. Đồng thời, thời gian nghiệm thu, quyết toán và thu hồi công nợ kéo dài làm gia tăng rủi ro tín dụng thương mại và rủi ro thanh khoản.

Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới hành chính (hợp nhất Thành phố Hà Nội cũ, tỉnh Hà Tây cũ, huyện Mê Linh thuộc tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình) có tốc độ đô thị hóa nhanh và quy mô đầu tư xây dựng lớn. Các DNXD trên địa bàn thành phố Hà Nội mang những đặc trưng riêng về môi trường kinh doanh và điều kiện tiếp cận vốn. Tuy nhiên, trước thời điểm nghiên cứu, các công trình học thuật chủ yếu tiếp cận rủi ro ở cấp độ từng dự án đơn lẻ hoặc chỉ khảo sát các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán, chưa có công trình nào đánh giá toàn diện công tác QT RRTC của các DNXD trên địa bàn TP. Hà Nội bao gồm cả khối doanh nghiệp niêm yết và chưa niêm yết trong giai đoạn 2012–2018.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án gồm ba nội dung:

  1. Luận giải các vấn đề lý luận cơ bản về rủi ro tài chính và QT RRTC trong doanh nghiệp;
  2. Đánh giá thực trạng QT RRTC tại các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2012–2018;
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp và khuyến nghị nhằm tăng cường công tác QT RRTC cho các DNXD trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Mục tiêu nghiên cứu được cụ thể hóa thông qua 5 câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi 1: Nội dung quản trị rủi ro tài chính bao gồm những khâu nào?
  • Câu hỏi 2: Các nhân tố nào ảnh hưởng đến công tác quản trị rủi ro tài chính của doanh nghiệp?
  • Câu hỏi 3: Đặc điểm của các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội ảnh hưởng như thế nào đến rủi ro tài chính?
  • Câu hỏi 4: Các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội đã sử dụng các biện pháp nào để quản trị rủi ro tài chính?
  • Câu hỏi 5: Các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội đã sử dụng và phân bổ nguồn lực như thế nào để thực hiện quản trị rủi ro tài chính?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản trị rủi ro tài chính (bao gồm nhận diện, đo lường, kiểm soát và tài trợ rủi ro tài chính) trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng dưới hình thức công ty cổ phần.
  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu 6 loại rủi ro tài chính chủ yếu: rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất, rủi ro biến động giá nguyên vật liệu, rủi ro tín dụng thương mại, rủi ro đòn bẩy tài chính và rủi ro thanh khoản.
  • Phạm vi không gian và mẫu khảo sát: Mẫu nghiên cứu gồm 40 DNXD hoạt động trên địa bàn TP. Hà Nội, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) thỏa mãn các tiêu chí: hoạt động chính là xây lắp công trình dân dụng và công nghiệp (doanh thu xây lắp chiếm trên 50% tổng doanh thu); có đầy đủ dữ liệu báo cáo tài chính liên tục giai đoạn 2012–2018; đa dạng về quy mô vốn kinh doanh (dưới 500 tỷ VNĐ, từ 500 đến 1.000 tỷ VNĐ, trên 1.000 tỷ VNĐ) và tỷ lệ sở hữu vốn nhà nước (chi phối trên 50%, có vốn góp dưới 50%, không có vốn nhà nước).
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp và thực trạng hoạt động được thu thập, phân tích trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trên thế giới

Tác giả hệ thống hóa các nghiên cứu quốc tế theo 5 nhóm nội dung:

  1. Về khái niệm rủi ro và rủi ro tài chính: Frank Knight (1921) trong tác phẩm "Risk, Uncertainty and Profit" phân biệt sự bất định và rủi ro, khẳng định rủi ro là sự bất định có thể đo lường được bằng xác suất. Nassim Nicholas tiếp cận rủi ro dưới góc độ các biến cố ngẫu nhiên gây tổn thất. Eichhorn (2004) và Ann-Katrin Napp (2011) phân chia rủi ro tài chính thành hai nhóm: rủi ro do nhân tố khách quan từ thị trường (lãi suất, tỷ giá, giá cả) và rủi ro do nhân tố chủ quan từ tình hình tài chính nội tại. Steven Li (2003) gắn rủi ro tài chính với sự không chắc chắn của lãi suất, tỷ giá, giá cổ phiếu và hàng hóa. Arthur William, Jr Micheal và L. Smith (1998) xem rủi ro là sự biến động tiềm ẩn của các kết quả đầu ra.
  2. Về quản trị rủi ro tài chính: Chance và Brooks (2010) xác định QT RRTC là việc xác lập mức rủi ro mong muốn, nhận diện rủi ro hiện tại và sử dụng công cụ tài chính/phái sinh để điều chỉnh. Jorion (2011) định nghĩa QT RRTC là một chu trình nhận diện, đánh giá, đo lường và kiểm soát rủi ro để tạo ra giá trị kinh tế.
  3. Về mức độ thực hiện quản trị rủi ro: Beasley và cộng sự (2005), Donald Pagach và Richard Warr (2007), Liebenberg và Hoyt (2011) sử dụng sự hiện diện của chức danh Giám đốc Quản trị Rủi ro (CRO) làm biến đại diện cho quyết định triển khai quản trị rủi ro. Naciye (2011) đo lường mức độ thực hiện thông qua thang điểm 0–3 từ bảng khảo sát.
  4. Về công cụ quản trị rủi ro: Nghiên cứu của Wharton School (1998) khảo sát các doanh nghiệp phi tài chính tại Mỹ và Đức, chỉ ra tỷ lệ sử dụng công cụ phái sinh lần lượt là 57% và 78%, tập trung nhiều nhất vào rủi ro tỷ giá và lãi suất. Dhamini và cộng sự (2007) nhấn mạnh việc phối hợp các công cụ để ổn định dòng tiền. Henschel (2008) chỉ ra các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường ưu tiên sử dụng hợp đồng bảo hiểm do rào cản chi phí của thị trường phái sinh.
  5. Về phương pháp nghiên cứu: Gordon và cộng sự (2011) sử dụng bảng hỏi khảo sát rủi ro sau khủng hoảng; Yusuwan và cộng sự (2008) kết hợp bảng hỏi và phỏng vấn để phân tích rủi ro ngành xây dựng tại Malaysia; Liebenberg và Hoyt (2003, 2006, 2008, 2011) sử dụng mô hình kinh tế lượng; Pagach và Warr (2010), Yazid và cộng sự (2008) sử dụng phương pháp so sánh chỉ tiêu tài chính trước và sau khi áp dụng quy trình quản trị rủi ro.

Các hướng nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, các công trình học thuật được tác giả tổng hợp theo 4 hướng:

  1. Nghiên cứu về bản chất rủi ro tài chính: PGS. Lưu Thị Hương và PGS. Vũ Duy Hào (2006), PGS. Nguyễn Đình Kiệm và TS. Bạch Đức Hiển (2008), PGS. Vũ Duy Hào và Đàm Văn Huệ (2009) gắn rủi ro tài chính với việc sử dụng nợ và cấu trúc vốn. PGS.TS. Nguyễn Thị Ngọc Trang đề cập đến khái niệm "rủi ro kiệt giá tài chính" gắn với độ nhạy cảm trước biến động giá cả thị trường. TS. Lê Văn Luyện (2011) đánh giá rủi ro tài chính qua khả năng thanh toán, đòn bẩy tài chính, vòng quay vốn và lãi suất.
  2. Nghiên cứu về quy trình quản trị rủi ro tài chính: TS. Nguyễn Trọng Cơ và PGS.TS. Nghiêm Thị Thà (2013), PGS.TS. Nguyễn Thị Quy (2008), TS. Nguyễn Minh Kiều (2009) tiếp cận QT RRTC theo chu trình phòng ngừa, kiểm soát và xử lý tổn thất. Đề tài cấp Bộ của PGS. Vũ Văn Ninh và TS. Phạm Văn Bình (2012) nghiên cứu chỉ tiêu kiểm soát RRTC tại các tập đoàn kinh tế; Đề tài của PGS. Nguyễn Trọng Cơ và PGS. Nghiêm Thị Thà (2013) khảo sát QT RRTC tại các tập đoàn kinh tế nhà nước. Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Bảo Hiền (2016) nghiên cứu QT RRTC tại các doanh nghiệp Dược; Luận án của Trịnh Thị Phan Lan (2016) nghiên cứu mối quan hệ giữa QT RRTC và giá trị của các doanh nghiệp niêm yết giai đoạn 2010–2015; TS. Vũ Văn Ninh và TS. Phạm Thị Thanh Hòa (2017) phân tích RRTC xuất phát từ cơ cấu vốn và biến động thị trường.
  3. Nghiên cứu tài chính trong doanh nghiệp xây dựng: Luận án của Ngô Thị Kim Hòa (2017) về quản trị vốn kinh doanh; Luận án của Phạm Thị Vân Huyền (2017) về quản trị tài chính doanh nghiệp xây dựng niêm yết giai đoạn 2011–2015; Luận án của Nguyễn Minh Nguyệt (2018) về cấu trúc vốn DNXD niêm yết.
  4. Nghiên cứu quản trị rủi ro tài chính trong DNXD: Luận án của Lưu Hữu Đức (2018) nghiên cứu QT RRTC tại các công ty cổ phần xây dựng niêm yết giai đoạn 2009–2015 theo các khâu nhận diện, đo lường và xử lý rủi ro.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

  • Về phạm vi: Các công trình trước đây chỉ khảo sát các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán hoặc các tập đoàn lớn. Luận án mở rộng đối tượng khảo sát sang cả các DNXD chưa niêm yết, tập trung trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2012–2018.
  • Về nội dung: Đi sâu phân tích những đặc thù kinh tế - kỹ thuật của ngành xây dựng và điều kiện kinh tế - xã hội của Hà Nội tác động đến 4 khâu quản trị: nhận diện, đo lường, kiểm soát và tài trợ rủi ro tài chính.
  • Về phương pháp: Kết hợp khảo sát thực tế, phân tích báo cáo tài chính và xây dựng mô hình kinh tế lượng dữ liệu bảng (Panel Data) nhằm lượng hóa tác động của các biến rủi ro tài chính đến khả năng sinh lời (ROA).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Rủi ro: Là tình trạng không chắc chắn hay bất ổn có thể đo lường được, xuất hiện làm kết quả thực tế sai khác so với kỳ vọng ban đầu.
  • Phân loại rủi ro doanh nghiệp: Phân theo tính chất gồm rủi ro kinh doanh (gắn với chiến lược và biến động doanh thu), rủi ro hoạt động (gắn với tỷ trọng chi phí cố định và đòn bẩy kinh doanh), và rủi ro tài chính (gắn với cơ cấu nợ vay và biến động giá cả, lãi suất, tỷ giá). Phân theo phạm vi ảnh hưởng gồm rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống.
  • Rủi ro tài chính (RRTC): Là những rủi ro phát sinh do sự biến động của các yếu tố thị trường bên ngoài và các quyết định tài chính bên trong doanh nghiệp, làm ảnh hưởng đến khả năng sinh lời và khả năng thanh toán. Sáu loại RRTC trọng yếu:
    1. Rủi ro tỷ giá: Biến động tỷ giá hối đoái làm thay đổi dòng tiền thu/chi bằng ngoại tệ trong hoạt động xuất nhập khẩu vật tư, vay nợ ngoại tệ hoặc đầu tư.
    2. Rủi ro lãi suất: Biến động lãi suất thị trường làm tăng chi phí vay nợ và thay đổi giá trị tài sản tài chính.
    3. Rủi ro biến động giá nguyên vật liệu: Biến động chi phí đầu vào (thép, xi măng, cát, đá...) trong điều kiện hợp đồng thi công đã cố định giá bán.
    4. Rủi ro tín dụng thương mại: Rủi ro đối tác chậm thanh toán, thanh toán thiếu hoặc mất khả năng thanh toán các khoản công nợ bán chịu.
    5. Rủi ro đòn bẩy tài chính: Rủi ro phát sinh khi doanh nghiệp sử dụng nợ vay có chi phí cố định, làm gia tăng mức độ biến động của ROE so với EBIT.
    6. Rủi ro thanh khoản: Doanh nghiệp không kịp chuyển đổi tài sản thành tiền để đáp ứng các nghĩa vụ nợ đến hạn.
  • Quy trình quản trị rủi ro tài chính: Gồm 4 khâu có mối liên hệ chặt chẽ:
    1. Nhận diện rủi ro: Sử dụng bảng câu hỏi điều tra, phân tích báo cáo tài chính, phương pháp lưu đồ quy trình, ý kiến chuyên gia.
    2. Đo lường rủi ro: Đánh giá mức tổn thất tối đa và xác suất xảy ra; kết hợp phương pháp định tính và định lượng (Độ lệch chuẩn $\sigma$, Hệ số biến thiên $CV = \sigma / \bar{r}$, Giá trị rủi ro VaR, Hệ số phá sản Z-score của Altman, Khai phá dữ liệu Data Mining).
    3. Kiểm soát rủi ro: Áp dụng các kỹ thuật né tránh, ngăn ngừa, giảm thiểu tổn thất và chuyển giao rủi ro thông qua mô hình quản trị "3 tuyến phòng thủ".
    4. Tài trợ rủi ro: Phân bổ nguồn lực tài chính xử lý tổn thất thông qua trích lập quỹ dự phòng, mua bảo hiểm và sử dụng công cụ tài chính.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp phương pháp định tính và định lượng:

  1. Phương pháp định tính: Hệ thống hóa lý luận; điều tra khảo sát bằng bảng hỏi gửi đến lãnh đạo, giám đốc tài chính, kế toán trưởng của 40 DNXD; thực hiện phỏng vấn sâu trực tiếp hoặc qua điện thoại với các chuyên gia và nhà quản lý.
  2. Phương pháp thống kê mô tả và phân tổ: Sử dụng số liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê (2012–2018), báo cáo của Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính và BCTC của 40 DNXD; phân tổ theo quy mô vốn kinh doanh (< 500 tỷ VNĐ, 500–1.000 tỷ VNĐ, > 1.000 tỷ VNĐ) và theo tỷ lệ sở hữu nhà nước.
  3. Phương pháp định lượng kinh tế lượng: Phân tích dữ liệu bảng (Panel Data) gồm 40 DNXD trong 7 năm (2012–2018). Luận án áp dụng các mô hình hồi quy Pooled OLS, mô hình tác động cố định (FEM - Fixed Effects Model) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM - Random Effects Model), kết hợp kiểm định F-test, Breusch-Pagan Lagrange Multiplier test và Hausman test để lựa chọn mô hình tối ưu.

Mô hình hồi quy thực nghiệm:

$$ROA_{it} = \alpha + \beta_1 ACP_{it} + \beta_2 DR_{it} + \beta_3 CR_{it} + \beta_4 DFL_{it} + \beta_5 Size_{it} + \beta_6 GR_{it} + \varepsilon_{it}$$

Ký hiệu biến Tên biến Đo lường / Công thức Ý nghĩa lý thuyết
ROA Khả năng sinh lời LNST / Vốn kinh doanh bình quân Biến phụ thuộc đại diện cho hiệu quả sinh lời
ACP Kỳ thu tiền trung bình (Khoản phải thu bình quân $\times$ 360) / DTT Đại diện cho rủi ro tín dụng thương mại
DR Hệ số nợ Tổng nợ phải trả / Tổng tài sản Đại diện cho rủi ro cơ cấu tài chính
CR Khả năng thanh toán hiện thời Tài sản ngắn hạn / Nợ ngắn hạn Đại diện cho rủi ro thanh khoản
DFL Mức độ tác động đòn bẩy TC EBIT / (EBIT - Lãi vay) Đại diện cho rủi ro đòn bẩy tài chính
Size Quy mô doanh nghiệp Ln(Tổng tài sản) Biến kiểm soát quy mô
GR Tăng trưởng doanh thu $(DTT_t - DTT_{t-1}) / DTT_{t-1}$ Biến kiểm soát cơ hội tăng trưởng

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận chung về quản trị rủi ro tài chính trong doanh nghiệp

Chương 1 xây dựng khung lý thuyết toàn diện về RRTC và QT RRTC:

  • Phân tích bản chất của rủi ro tài chính theo quan điểm hiện đại: rủi ro không chỉ mang ý nghĩa tiêu cực mà là sự sai khác giữa giá trị thực tế so với kỳ vọng, mở ra cơ hội tối ưu hóa nếu được quản trị chủ động.
  • Trình bày chi tiết 6 loại RRTC trọng yếu và dấu hiệu nhận diện:
    • Rủi ro tỷ giá: Dấu hiệu nhận diện qua chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong các giao dịch xuất nhập khẩu vật tư máy móc và khoản vay ngoại tệ.
    • Rủi ro giá cả: Dấu hiệu nhận diện qua tỷ lệ Giá vốn hàng bán / Doanh thu thuần và sự chênh lệch giữa tốc độ tăng giá vốn so với tốc độ tăng doanh thu.
    • Rủi ro đòn bẩy tài chính: Dấu hiệu nhận diện qua Hệ số nợ ($DR > 50%$) và Vốn lưu động thường xuyên ($NWC = \text{Nguồn vốn thường xuyên} - \text{Tài sản dài hạn} < 0$).
    • Rủi ro lãi suất: Dấu hiệu nhận diện qua Hệ số thanh toán lãi vay ($EBIT / I < 2$).
    • Rủi ro tín dụng thương mại: Dấu hiệu nhận diện qua tỷ lệ Phải thu / Nợ ngắn hạn, vòng quay khoản phải thu và mức tăng dự phòng nợ phải thu khó đòi.
    • Rủi ro thanh khoản: Dấu hiệu nhận diện qua Hệ số thanh toán hiện thời ($CR < 1$), Hệ số thanh toán nhanh và Hệ số thanh toán tức thời.
  • Xác lập 3 nguyên tắc quản trị: gắn liền với mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp; triển khai như một quá trình liên tục, có tính hệ thống; thường xuyên được đánh giá và cải tiến.
  • Khái quát các phương pháp đo lường: Độ lệch chuẩn, Hệ số biến thiên (CV), Giá trị rủi ro (VaR với độ tin cậy 95% hoặc 99%), Mô hình Z-score của Altman dành cho doanh nghiệp sản xuất ($Z = 1{,}2 X_1 + 1{,}4 X_2 + 3{,}3 X_3 + 0{,}6 X_4 + 0{,}999 X_5$) với ngưỡng phân loại an toàn ($Z > 2{,}99$), vùng cảnh báo ($1{,}81 \le Z \le 2{,}99$) và vùng nguy hiểm ($Z < 1{,}81$), và ứng dụng công nghệ Khai phá dữ liệu (Data Mining).
  • Phân tích kinh nghiệm quốc tế: bài học từ các tập đoàn xây dựng trên thế giới về thiết lập hệ thống cảnh báo sớm, ứng dụng công cụ phái sinh và vận hành mô hình quản trị rủi ro "3 tuyến phòng thủ".

Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tài chính của các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam trên địa bàn thành phố Hà Nội

Chương 2 tập trung phân tích thực trạng của 40 DNXD tại Hà Nội giai đoạn 2012–2018:

  • Tình hình tài chính chung: Kết quả kinh doanh, doanh thu thuần (DTT), EBIT, LNST, tổng tài sản, hệ số nợ và tỷ trọng nợ ngắn hạn có sự phân hóa rõ rệt giữa các nhóm quy mô vốn và tỷ lệ sở hữu nhà nước. Hệ số nợ của các DNXD duy trì ở mức cao, nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng nợ phải trả.
  • Thực trạng 4 khâu quản trị rủi ro:
    • Nhận diện rủi ro: Phần lớn DNXD chủ yếu nhận diện rủi ro dựa trên kinh nghiệm của ban điều hành và phân tích báo cáo tài chính định kỳ; chưa áp dụng phương pháp lưu đồ chuỗi giá trị và bảng hỏi khảo sát rủi ro nội bộ. Hoạt động nhận diện rủi ro tỷ giá chỉ tập trung ở nhóm doanh nghiệp nhập khẩu máy móc thiết bị; nhận diện rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng thương mại còn mang tính bị động.
    • Đo lường rủi ro: Các doanh nghiệp chủ yếu dừng lại ở việc tính toán các tỷ số tài chính đơn lẻ (hệ số nợ, hệ số thanh toán, vòng quay công nợ); hầu như chưa áp dụng các công cụ định lượng nâng cao như VaR, Z-score hay hệ số biến thiên để ước lượng mức tổn thất tối đa.
    • Kiểm soát rủi ro: Các biện pháp kiểm soát rủi ro tín dụng thương mại chủ yếu là đôn đốc thu hồi nợ trực tiếp, đối chiếu công nợ; kiểm soát rủi ro biến động giá thông qua điều khoản điều chỉnh giá trong hợp đồng thi công; chưa khai thác thị trường công cụ tài chính phái sinh để phòng ngừa rủi ro lãi suất và tỷ giá.
    • Tài trợ rủi ro: Biện pháp tài trợ chủ yếu là tự gánh chịu rủi ro và trích lập dự phòng phải thu khó đòi theo quy định kế toán bắt buộc; việc sử dụng bảo hiểm xây dựng còn mang tính đối phó theo yêu cầu pháp lý; khả năng tiếp cận các quỹ dự phòng tài chính tự nguyện còn hạn chế.
  • Kết quả ước lượng mô hình kinh tế lượng:
    • Qua các bước kiểm định mô hình hồi quy dữ liệu bảng, mô hình FEM và REM được đánh giá; sau các kiểm định loại biến, các biến ACP và DFL không đạt mức ý nghĩa thống kê trong mô hình giải thích ROA của mẫu nghiên cứu.
    • Biến Hệ số nợ (DR) có tác động tiêu cực (nghịch chiều) đến ROA ở mức ý nghĩa thống kê: việc gia tăng tỷ lệ nợ vay làm tăng chi phí lãi vay và áp lực tài chính, làm suy giảm tỷ suất sinh lời.
    • Biến Hệ số khả năng thanh toán hiện thời (CR) có hệ số âm tương quan với ROA: việc nắm giữ quá nhiều tài sản ngắn hạn (đặc biệt là hàng tồn kho và các khoản phải thu ứ đọng) làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản của DNXD.
    • Biến Quy mô doanh nghiệp (Size) và Tốc độ tăng trưởng doanh thu (GR) có tác động tích cực (thuận chiều) đến ROA: các doanh nghiệp có quy mô tài sản lớn và tốc độ tăng trưởng doanh thu cao đạt hiệu quả sinh lời tốt hơn.
  • Đánh giá tổng hợp:
    • Kết quả đạt được: Các DNXD đã bước đầu nhận thức được tầm quan trọng của rủi ro nợ vay và rủi ro thu hồi vốn; duy trì việc lập dự phòng nợ xấu theo quy định.
    • Hạn chế và nguyên nhân: Chưa thiết lập bộ phận chuyên trách về quản trị rủi ro; quy chế quản trị rủi ro chưa được ban hành đồng bộ; thiếu công cụ định lượng đo lường mức độ rủi ro; quản trị dòng tiền chưa chặt chẽ. Nguyên nhân xuất phát từ nhận thức của người đứng đầu, thiếu hụt nhân sự chuyên môn về tài chính - rủi ro và áp lực cạnh tranh gay gắt trong ngành xây dựng.

Chương 3: Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tài chính của các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam trên địa bàn thành phố Hà Nội

Chương 3 đề xuất định hướng và hệ thống giải pháp cụ thể:

  • Bối cảnh và quan điểm: Phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô, dự báo tăng trưởng giai đoạn 2020–2025 và định hướng phát triển ngành xây dựng; xác định quan điểm giải pháp phải mang tính đồng bộ, khả thi, phù hợp với năng lực tài chính của từng nhóm DNXD.
  • Hệ thống giải pháp cụ thể cho DNXD:
    • Hoàn thiện nhận diện rủi ro: Xây dựng danh mục rủi ro chuẩn hóa theo chuỗi giá trị ngành xây dựng; kết hợp phương pháp lập bảng hỏi định kỳ và phân tích chuyên sâu các chỉ tiêu tài chính cảnh báo sớm.
    • Hoàn thiện đo lường rủi ro: Đưa vào ứng dụng mô hình Z-score của Altman để theo dõi định kỳ nguy cơ phá sản; áp dụng phương pháp VaR và hệ số biến thiên để ước lượng mức tổn thất tối đa danh mục đầu tư và các khoản phải thu.
    • Hoàn thiện kiểm soát rủi ro: Thiết lập mô hình quản trị rủi ro "3 tuyến phòng thủ": Tuyến 1 là các đơn vị kinh doanh/đội thi công trực tiếp kiểm soát rủi ro phát sinh; Tuyến 2 là bộ phận quản lý rủi ro/phòng tài chính giám sát và xây dựng khung chính sách; Tuyến 3 là bộ phận kiểm toán nội bộ kiểm tra độc lập. Đẩy mạnh việc thương lượng điều khoản trượt giá trong hợp đồng thi công và từng bước tiếp cận công cụ phái sinh.
    • Hoàn thiện tài trợ rủi ro: Thực hiện trích lập đầy đủ và sử dụng linh hoạt các quỹ dự phòng tài chính, dự phòng nợ khó đòi, dự phòng giảm giá hàng tồn kho; chủ động tham gia các hợp đồng bảo hiểm công trình, bảo hiểm trách nhiệm bên thứ ba để chuyển giao rủi ro.
    • Nâng cao năng lực QT RRTC: Thành lập bộ phận quản lý rủi ro độc lập hoặc bán chuyên trách; ban hành quy chế quản trị rủi ro nội bộ; đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ tài chính kế toán; nâng cấp hệ thống phần mềm quản trị thông tin kế toán - tài chính.
  • Kiến nghị thực thi:
    • Đối với Nhà nước: Hoàn thiện hành lang pháp lý về quản trị rủi ro và công cụ tài chính phái sinh; kiểm soát chặt chẽ công tác giải ngân vốn đầu tư công; hoàn thiện cơ chế nghiệm thu, thanh quyết toán công trình xây dựng nhằm hạn chế nợ đọng xây dựng cơ bản.
    • Đối với Ngân hàng thương mại / Tổ chức tín dụng: Đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng và dịch vụ bảo lãnh phù hợp với chu kỳ thi công của ngành xây dựng; phát triển các gói sản phẩm phòng ngừa rủi ro lãi suất, tỷ giá với chi phí hợp lý.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về rủi ro tài chính và quản trị rủi ro tài chính trong doanh nghiệp, phân định rõ các nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến 6 loại rủi ro tài chính cơ bản.
  2. Phân tích làm rõ các nhân tố đặc thù của ngành xây dựng (chu kỳ sản xuất dài, nhu cầu vốn lớn, sử dụng nợ vay cao, công nợ chậm thanh toán) và đặc điểm kinh tế - xã hội của Thủ đô Hà Nội ảnh hưởng trực tiếp đến công tác QT RRTC.
  3. Tổng hợp các bài học kinh nghiệm quốc tế về quy trình quản trị rủi ro, mô hình 3 tuyến phòng thủ và ứng dụng công cụ phái sinh, từ đó rút ra các bài học có giá trị ứng dụng cho các DNXD Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Phản ánh toàn diện thực trạng QT RRTC của 40 DNXD trên địa bàn TP. Hà Nội giai đoạn 2012–2018 theo 4 nội dung trọng yếu: nhận diện, đo lường, kiểm soát và tài trợ rủi ro; chỉ rõ những mặt đạt được, các điểm nghẽn và nguyên nhân cụ thể.
  2. Ứng dụng mô hình kinh tế lượng dữ liệu bảng (FEM/REM) để kiểm định thực nghiệm tác động của các yếu tố rủi ro tài chính đến tỷ suất sinh lời ROA của các DNXD tại Hà Nội, chứng minh tác động tiêu cực của hệ số nợ (DR) và hệ số thanh toán hiện thời (CR), đồng thời chỉ ra tác động tích cực của quy mô (Size) và tốc độ tăng trưởng doanh thu (GR).
  3. Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ từ khâu nhận diện, đo lường (áp dụng Z-score, VaR), kiểm soát (mô hình 3 tuyến phòng thủ), tài trợ rủi ro đến nâng cao năng lực bộ máy quản trị, đi kèm các khuyến nghị vĩ mô đối với cơ quan quản lý nhà nước và hệ thống ngân hàng thương mại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Phạm vi không gian và quy mô mẫu: Nghiên cứu chỉ tập trung vào 40 DNXD hoạt động trên địa bàn thành phố Hà Nội có loại hình doanh nghiệp là công ty cổ phần xây lắp; chưa bao quát được toàn bộ các DNXD thuộc các loại hình sở hữu khác (như công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân) cũng như các DNXD tại các vùng kinh tế trọng điểm khác trên cả nước.
  • Phạm vi thời gian dữ liệu: Dữ liệu nghiên cứu thực nghiệm được giới hạn trong chuỗi thời gian 2012–2018.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi khảo sát ra các tỉnh thành, vùng kinh tế trọng điểm khác (như khu vực TP. Hồ Chí Minh, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung) để có cơ sở so sánh đặc thù rủi ro tài chính giữa các địa bàn.
  • Kéo dài chuỗi thời gian nghiên cứu sang các năm sau 2018 nhằm kiểm chứng sự thay đổi trong cấu trúc tài chính và hiệu quả QT RRTC của DNXD trong các bối cảnh kinh tế mới.
  • Bổ sung thêm các biến số thị trường và biến số vĩ mô (như lạm phát, lãi suất cho vay thực tế, chỉ số giá nguyên vật liệu xây dựng) vào mô hình kinh tế lượng để phân tích sâu hơn độ nhạy cảm của doanh nghiệp trước các cú sốc bên ngoài.

Giá trị tham khảo

Đối tượng thụ hưởng

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Là tài liệu tham khảo chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Quản trị kinh doanh về phương pháp luận kết hợp giữa nghiên cứu định tính (khảo sát thực tế) và mô hình định lượng dữ liệu bảng trong đánh giá rủi ro tài chính doanh nghiệp.
  • Lãnh đạo và nhà quản trị doanh nghiệp xây dựng: Các Giám đốc điều hành (CEO), Giám đốc tài chính (CFO), Kế toán trưởng tại các DNXD có thể tham khảo trực tiếp khung chỉ tiêu nhận diện rủi ro, phương pháp đo lường Z-score và quy trình kiểm soát rủi ro theo mô hình 3 tuyến phòng thủ để áp dụng vào doanh nghiệp.
  • Cơ quan quản lý nhà nước và ngân hàng thương mại: Cung cấp căn cứ thực tiễn cho Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính trong việc hoàn thiện thể chế quản lý vốn đầu tư xây dựng, cơ chế nghiệm thu quyết toán và giúp các tổ chức tín dụng thiết kế quy trình thẩm định tín dụng, quản lý rủi ro cho vay đối với nhóm khách hàng ngành xây dựng.

Phần nội dung đáng tham khảo

  • Khung hệ thống chỉ tiêu tài chính nhận diện 6 loại rủi ro tài chính tại Chương 1.
  • Quy trình phân tích dữ liệu bảng và kết quả kiểm định mô hình hồi quy FEM/REM tại Chương 2.
  • Sơ đồ ma trận phân loại rủi ro, mô hình quản trị rủi ro "3 tuyến phòng thủ" và bộ quy chế quản trị rủi ro mẫu tại Chương 3 và phần phụ lục của luận án.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân chia nội dung quản trị rủi ro tài chính thành những khâu cơ bản nào?

Theo khung lý thuyết được luận án xây dựng, quản trị rủi ro tài chính trong doanh nghiệp bao gồm 4 nội dung có quan hệ logic và liên tục:

  1. Nhận diện rủi ro tài chính;
  2. Đo lường rủi ro tài chính;
  3. Kiểm soát rủi ro tài chính;
  4. Tài trợ rủi ro tài chính.

2. Mẫu nghiên cứu thực nghiệm của luận án gồm bao nhiêu doanh nghiệp và được lựa chọn theo tiêu chí nào?

Mẫu nghiên cứu gồm 40 doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn TP. Hà Nội, được chọn theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) với 3 tiêu chí:

  1. Doanh nghiệp có hoạt động chính là xây lắp công trình dân dụng, công nghiệp với tỷ trọng doanh thu xây lắp trên 50% tổng doanh thu và hoạt động tại TP. Hà Nội;
  2. Có đầy đủ dữ liệu báo cáo tài chính liên tục trong giai đoạn 2012–2018;
  3. Đa dạng về quy mô vốn kinh doanh (dưới 500 tỷ, 500–1.000 tỷ, trên 1.000 tỷ VNĐ) và đa dạng về tỷ lệ sở hữu vốn nhà nước (trên 50%, dưới 50%, không có vốn nhà nước).

3. Phương trình hồi quy định lượng trong luận án được thiết lập như thế nào?

Phương trình hồi quy đa biến dữ liệu bảng của luận án có dạng:

$$ROA_{it} = \alpha + \beta_1 ACP_{it} + \beta_2 DR_{it} + \beta_3 CR_{it} + \beta_4 DFL_{it} + \beta_5 Size_{it} + \beta_6 GR_{it} + \varepsilon_{it}$$

Trong đó, biến phụ thuộc là tỷ suất sinh lời trên tổng vốn kinh doanh bình quân ($ROA$), các biến độc lập và biến kiểm soát gồm: Kỳ thu tiền trung bình ($ACP$), Hệ số nợ ($DR$), Hệ số khả năng thanh toán hiện thời ($CR$), Mức độ tác động của đòn bẩy tài chính ($DFL$), Quy mô doanh nghiệp ($Size = \ln(TTS)$) và Tốc độ tăng trưởng doanh thu thuần ($GR$).

4. Kết quả mô hình kinh tế lượng chỉ ra mối quan hệ giữa các biến rủi ro tài chính với khả năng sinh lời (ROA) ra sao?

Kết quả kiểm định và phân tích hồi quy (sau khi loại các biến không có ý nghĩa thống kê là $ACP$ và $DFL$) chỉ ra:

  • Hệ số nợ ($DR$) và Hệ số khả năng thanh toán hiện thời ($CR$) có mối tương quan nghịch (âm) với $ROA$.
  • Quy mô doanh nghiệp ($Size$) và Tốc độ tăng trưởng doanh thu thuần ($GR$) có tác động thuận chiều (dương) đến $ROA$.

5. Luận án đề xuất mô hình cơ cấu tổ chức nào để kiểm soát rủi ro tài chính trong DNXD?

Luận án đề xuất áp dụng mô hình quản trị rủi ro "3 tuyến phòng thủ":

  • Tuyến 1: Các phòng ban chức năng và các đơn vị thi công trực tiếp nhận diện và kiểm soát rủi ro trong công việc hàng ngày;
  • Tuyến 2: Bộ phận quản lý rủi ro / Phòng Tài chính - Kế toán chịu trách nhiệm xây dựng khung chính sách, giám sát và điều phối hoạt động quản trị rủi ro;
  • Tuyến 3: Ban Kiểm soát / Bộ phận Kiểm toán nội bộ thực hiện kiểm tra, đánh giá độc lập tính hiệu lực của toàn bộ hệ thống quản trị rủi ro.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phan Thùy Dương đã giải quyết toàn diện các mục tiêu nghiên cứu về lý luận và thực tiễn quản trị rủi ro tài chính tại 40 doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2012–2018. Bằng việc kết hợp phương pháp khảo sát thực tế và mô hình kinh tế lượng dữ liệu bảng, luận án đã làm sáng tỏ tác động của cấu trúc nợ, khả năng thanh khoản, quy mô và tăng trưởng doanh thu tới khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Các phát hiện thực nghiệm là cơ sở khoa học vững chắc để tác giả xây dựng hệ thống 5 nhóm giải pháp hoàn thiện 4 khâu quản trị rủi ro (nhận diện, đo lường bằng Z-score/VaR, kiểm soát qua mô hình 3 tuyến phòng thủ, tài trợ rủi ro) cùng các kiến nghị vĩ mô, mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhà quản trị doanh nghiệp xây dựng, giới nghiên cứu học thuật và các cơ quan quản lý nhà nước.