CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH BẰNG CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH 1.1 Tổng quan về rủi ro tài chính: 1.1 Rủi ro tài chính phát sinh thế nào? Bên cạnh không ít những cơ hội dành cho những ai biết tính toán và tận dụng trên thị trường tài chính thì thị trường tài chính luôn là nơi rủi ro rình rập, chính vì thế, việc nhận diện những nguy cơ này và có biện pháp khắc chế thích hợp luôn là điều mà các nhà quản trị tài chính phải quan tâm. Rủi ro tài chính bắt nguồn từ vô số các giao dịch liên quan đến doanh nghiệp như mua, bán, đầu tư, vay nợ, và một số các hoạt động kinh doanh khác là hệ quả gián tiếp của các chính sách thay đổi trong quản lý, trong cạnh tranh, trong các quan hệ quốc tế, thậm chí chỉ có thể do sự thay đổi của thời tiết, khí hậu. Nếu quan sát kỹ các biến động về tài chính có thể nhận ra 3 nguồn chính gây ra rủi ro về tài chính bao gồm: + Rủi ro phát sinh từ sự thay đổi bên ngoài về giá cả trên thị trường như lãi suất, tỷ giá, giá các loại hàng hóa, … + Rủi ro phát sinh từ hoạt động hay giao dịch với các đối tác kinh doanh như nhà cung cấp, khách hàng, các đối tác trong các giao dịch phát sinh hoặc trong các liên doanh góp vốn đầu tư. + Rủi ro phát sinh ngay trong chính nội bộ doanh nghiệp, những thay đổi từ bên trong liên quan đến nhân sự, cơ cấu tổ chức hoặc quy trình sản xuất kinh doanh.Ung Thị Minh Lệ 123doc Luận văn Thạc sĩ Kinh tế 14 Học viên: Lâm Thị Thùy Trang Tóm lại, rủi ro chính là các khả năng gây ra tổn thất hay thiệt hại.
Thông thường các rủi ro không đứng riêng lẻ mà chúng tiềm ẩn trong mối quan hệ có tính tương tác khiến cho việc dự đoán rủi ro càng trở nên phức tạp, khó khăn hơn. Tùy vào mức độ và khả năng chấp nhận rủi ro, doanh nghiệp sẽ chấp nhận những biện pháp phòng chống khác nhau nhằm giảm thiểu mức độ thiệt hại. Trên thực tế doanh nghiệp có thể có một số lựa chọn, một trong những lựa chọn đơn giản nhất là không làm gì cả, bằng cách chủ động hoặc bị động chấp nhận mọi rủi ro có thể xảy ra, điều này thích hợp với những rủi ro nhỏ vì chi phí phòng ngừa có thể cao hơn mức thiệt hại phải chấp nhận khi thị trường biến động. Tuy nhiên, phương pháp này lại tỏ ra rất nguy hiểm đối với những rủi ro lớn, khi đó các công cụ phòng chống rủi ro đặc biệt tỏ ra hữu hiệu nhằm ngăn chặn một phần tổn thất có khả năng xảy ra hoặc ngăn chặn khả năng xảy ra rủi ro có thể lường trước được.2 Quản trị rủi ro là gì? Rủi ro kiệt giá tài chính là gì? Quản trị rủi ro là việc xác định mức độ rủi ro mà một công ty có thể chấp nhận, nhận diện được mức độ rủi ro có thể có và sử dụng các công cụ phái sinh hoặc các công cụ tài chính khác để điều chỉnh mức độ rủi ro sự theo mức rủi ro mà mình mong muốn.
Độ nhạy cảm từ các nhân tố giá cả thị trường như lãi suất, tỷ giá, giá cả hàng hóa và chứng khoán tác động đến thu nhập của doanh nghiệp được gọi là rủi ro kiệt giá tài chính. (trang 6 sách quản trị rủi ro Tài chính, TS. Nguyễn Thị Ngọc Trang) Để quản trị rủi ro kiệt giá tài chính trước tiên nhà quản trị phải tính toán và cân nhắc các mức độ rủi ro, khả năng chịu đựng tổn thất của doanh nghiệp, quá trình đo lường rủi ro gồm các bước sau: GVHD: TS.Ung Thị Minh Lệ 123doc Luận văn Thạc sĩ Kinh tế 15 Học viên: Lâm Thị Thùy Trang + Tính toán mức thu lợi có thể đạt được hoặc quan trọng hơn cả là tính toán mức tổn thất có thể chấp nhận được trong trường hợp xảy ra biến động xấu nhất. Nói cách khác, đo lường rủi ro chính là trả lời câu hỏi: “doanh nghiệp có thể chấp nhận tổn thất đến mức độ nào ?” + Xác định khả năng xảy ra biến động trên thị trường, dựa trên những khả năng biến động để tính toán mức thu lợi hoặc tổn thất.3 Các tình huống phòng ngừa rủi ro: 1.1 Phòng ngừa vị thế bán nghĩa là phòng ngừa bằng cách bán trên thị trường giao sau.
Người đang phòng ngừa hiện đang nắm giữ một tài sản và đang lo ngại về một sự sụt giá cả một tài sản có thể xem xét phòng ngừa với vị thế bán trên hợp đồng giao sau. Ví dụ nếu giá bán giao ngay giảm, giá giao sau cũng sẽ giảm bởi vì người phòng ngừa ở vị thế bán trên hợp đồng giao sau, giao dịch giao sau sẽ tạo ra một khoản lãi ít nhất đủ để bù đắp phần lỗ xảy ra trên vị thế giao ngay, đây được gọi là phòng ngừa vị thế bán.2 Phòng ngừa vị thế mua nghĩa là phòng ngừa bằng cách mua trên thị trường giao sau. Nếu một người dự định mua một tài sản vào một ngày trong tương lai, do lo ngại giá tài sản sẽ tăng lên nên người đó sẽ mua một hợp đồng giao sau. Sau đó nếu giá tài sản tăng lên, giá giao sau cũng sẽ tăng lên tạo một khoản lãi trên vị thế giao sau.
Khoản lãi ít nhất đủ để bù đắp phần chi phí cao hơn khi mua tài sản, đây gọi là phòng ngừa vị thế mua.4 Quy trình quản trị rủi ro : Bước 1: Nhận diện rủi ro Mọi rủi ro trên thị trường đều xuất phát từ những thay đổi về giá cả thị trường như lãi suất, tỷ giá, cũng như giá các loại hàng hóa khác. Ngoài ra ta còn có một số rủi ro khác ảnh hưởng đến tài chính doanh nghiệp như rủi ro tín GVHD: TS.Ung Thị Minh Lệ 123doc Luận văn Thạc sĩ Kinh tế 16 Học viên: Lâm Thị Thùy Trang dụng, rủi ro trong hoạt động sản xuất, rủi ro thanh khoản và rủi ro hệ thống tác động chung lên toàn thị trường. Những rủi ro trên đều có tính liên kết và tác động qua lại lẫn nhau nên khi thị trường đi xuống sự cộng hưởng của chúng sẽ gây nên tổn thất khôn lường đối với doanh nghiệp. Trước khi ban quản trị có thể bắt đầu đưa ra bất kỳ một quyết định nào về quản trị rủi ro, trước tiên họ cần phải nhận diện tất cả những rủi ro mà công ty có thể gặp phải.
Những rủi ro này thường nằm trong hai nhóm là rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính. Đối với hầu hết các tổ chức phi tài chính, rủi ro kinh doanh là rủi ro có liên quan đến các hoạt động sản xuất và kinh doanh bán hàng, ví dụ, một nhà sản xuất máy tính gặp rủi ro kinh doanh khi đối thủ cạnh tranh giới thiệu ra thị trường một sản phẩm ưu việt hơn về mặt công nghệ làm mất thị phần của nhà sản xuất. Loại rủi ro thứ hai là rủi ro tài chính hay rủi ro kiệt giá tài chính, hầu hết những rủi ro tài chính là có thể quản trị rủi ro được bởi vì có sự tồn tại của nhiều thị trường lớn và một thị trường hiệu quả mà thông qua đó những rủi ro này có thể trao đổi cho nhau. Xem xét tính trọng yếu của khoản lỗ tiềm năng có thể xảy ra nếu doanh nghiệp không phòng ngừa độ nhạy cảm đối với rủi ro, nếu những khoản lỗ tiềm năng quá lớn, tức là đủ lớn để tác động nghiêm trọng đến thu nhập của doanh nghiệp thì phải thực hiện phòng ngừa rủi ro.
Bước 2: Đánh giá chi phí cho quản trị rủi ro. Chi phí là một trong những nguyên nhân khiến nhà quản trị lưỡng lự trong việc quyết định thực hiện các biện pháp quản trị rủi ro. Trong thực tế, một số chiến lược quản trị rủi ro rất tốn kém. Để đánh giá chính xác chi phí quản trị rủi ro nhà quản trị phải xem xét chúng trên phương diện chi phí tiềm ẩn khi không thực hiện quản trị rủi ro.
Chi phí tiềm ẩn này là tổn thất mà GVHD: TS.Ung Thị Minh Lệ 123doc Luận văn Thạc sĩ Kinh tế 17 Học viên: Lâm Thị Thùy Trang doanh nghiệp phải gánh chịu nếu các yếu tố thị trường như lãi suất hay tỷ giá dao động theo chiều hướng xấu đi. Ngày nay, doanh nghiệp ở các nước phát triển có xu hướng ứng dụng sản phẩm phái sinh nhiều hơn để quản trị rủi ro tài chính vì chi phí rẻ. Các sản phẩm phái sinh tại các nước phát triển có xu hướng rẻ hơn vì chi phí giao dịch của chúng tại các thị trường quyền chọn, giao sau và kỳ hạn có tính thanh khoản cao ngày càng thấp so với trước đây. Bước 3: Đánh giá hiệu quả của hoạt động quản trị rủi ro.
Để quản trị rủi ro hiệu quả thì mỗi công ty phải thiết lập các mục tiêu hợp lý cho mình ngay từ ban đầu và phải đạt được mục tiêu đó. Bên cạnh đó, công ty cần nhận dạng xem mình phải đương đầu với những loại rủi ro nào và thực hiện một hệ thống đo lường độ rủi ro, xem xét rủi ro nào mình cần phải bỏ chi phí để kiểm soát. Ngoài ra, công ty cần đánh giá và kiểm soát chức năng quản trị rủi ro. Ví dụ, nếu công ty muốn làm giảm biến động của một số nhân tố trên thị trường như nhân tố lãi suất, tỷ giá,… để làm tăng giá trị công ty thì cần phải đo lường xem mức độ giảm biến động thất thường của các nhân tố lãi suất, tỷ giá,… đó là bao nhiêu so với khi không có phòng ngừa rủi ro, đo lường chi phí tiền tệ chi trả để đạt được việc giảm biến động này và đo lường mức độ đạt được mục tiêu thực.Ung Thị Minh Lệ 123doc Luận văn Thạc sĩ Kinh tế 18 Học viên: Lâm Thị Thùy Trang 1.2 Một số loại công cụ tài chính phái sinh phổ biến hiện nay: 1.
1 Hợp đồng kỳ hạn (forward contract) 1.1 Khái niệm: Hợp đồng kỳ hạn là hợp đồng giữa hai bên người mua và người bán để mua hoặc bán tài sản vào một ngày trong tương lai với giá thỏa thuận ngày hôm nay. Nếu vào ngày đáo hạn giá thực tế cao hơn giá thực hiện người sở hữu hợp đồng sẽ kiếm được lợi nhuận, nếu giá thấp hơn người sở hữu hợp đồng sẽ chịu một khoản lỗ. Hợp đồng kỳ hạn thực chất là những thỏa thuận giữa 2 bên tham gia nhằm mục đích trao đổi hàng hóa tại một thời điểm trong tương lai.