CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT FDI VÀO LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ CAO CỦA MỘT ĐỊA PHƯƠNG 1. Khái niệm và sự cần thiết của thu hút nguồn vốn FDI vào lĩnh vực CNC của một địa phương 1. Khái niệm về lĩnh vực công nghệ cao “Hiện nay trên thế giới có rất nhiều khái niệm và quy định về lĩnh vực CNC. Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay vẫn sử dụng định nghĩa về CNC được quy định tại Luật CNC số 21/2008/QH12 ban hành ngày 13 tháng 11 năm 2008 và có hiệu lực bắt đầu từ ngày 01 tháng 07 năm 2009 của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong đó nêu rõ” “Công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường; có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có” “Theo định nghĩa trên thì CNC trước hết phải là các công nghệ, hay các phương thức tạo ra sự biến đổi, khác biệt theo hướng cải tiến một phương pháp đã tồn tại hoặc tạo ra một chức năng mới thông qua những hiểu biết, vận dụng những máy móc kỹ thuật, hệ thống, cách thức tổ chức.
Để được công nhận là CNC thì các công nghệ này phải có chứa hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Định nghĩa CNC cũng nêu rõ những tiêu chí khác như: + Áp dụng các thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, tránh trường hợp sử dụng các công nghệ lạc hậu, và không còn được sử dụng tại các nước tiên tiến vào thời điểm hiện tại. Công nghệ luôn thay đổi hàng ngày, hàng giờ trên thế giới nên 7 xảy ra thực trạng các công nghệ đã được áp dụng và trở lên lỗi thời tại các nước tiên tiến lại được xuất sang các nước đang hoặc kém phát triển, trở thành CNC. + Tạo ra những sản phẩm đảm bảo về chất lượng, tính năng, có GTGT cao và đảm bảo an toàn với môi trường.
Đây cũng là những tiêu chí về sản phẩm công nghệ đang được các quốc gia áp dụng, đặc biệt là các tiêu chuẩn về an toàn môi trường bên cạnh các đòi hỏi về mặt kỹ thuật. Các sản phẩm này không gây nguy hại đến môi trường trong cả quá trình sản xuất và quá trình tiêu hủy. + Các ngành, lĩnh vực CNC phải đóng vai trò quan trọng trong việc cải tiến các ngành hiện có theo hướng hiện đại hóa hoặc tạo ra các lĩnh vực mới, ngành nghề mới, tạo động lực phát triển cho nền kinh tế. Trong Luật CNC 2008, CP cũng đưa ra 4 lĩnh vực CNC được ưu tiên phát triển bao gồm: - Công nghệ thông tin; - Công nghệ sinh học; - Công nghệ vật liệu mới; - Công nghệ tự động hóa.
Trong phạm vi của đề tài, phần nội dung chỉ tập trung vào các lĩnh vực CNC được quy định trong Luật CNC 2008 và được cụ thể hóa trong Chiến lược phát triển KHCN giai đoạn 2011- 2020 và Quyết định số 66/2014/QĐ-TTg ngày 25 tháng 11 năm 2014 về Danh mục CNC được ưu tiên đầu tư phát triển. Tại Quyết định này, có 58 ngành công nghệ được phê duyệt bao trùm lên 4 lĩnh vực ưu tiên ở trên. Gần đây nhất, CP ban hành quyết định số 13/2017/QĐ-TTg ngày 28 tháng 4 năm 2017 về việc sửa đổi, bổ sung Danh mục CNC được ưu tiên đầu tư phát triển. Trong đó, sửa đổi 3 danh mục và bổ sung 4 ngành CNC được ưu tiên phát triển.
Như vậy, tính đến thời điểm này CP đã phê duyệt 62 ngành CNC trong 4 lĩnh vực CNC được ưu tiên phát triển. Các quy định về doanh nghiệp CNC nhằm làm rõ các tiêu chí về loại doanh nghiệp này nhằm đảm bảo các ưu đãi và khuyến khích đúng đối tượng. Các tiêu chí này cũng được nêu rõ trong Luật CNC năm 2008 của Quốc hội khóa 12, Luật đầu tư 8 năm 2014 của Quốc hội khóa 13 và lần gần đây nhất là Quyết định số 19/2015/QĐ- TTg của Thủ tướng CP ban hành ngày 15 tháng 6 năm 2015 về các Quy định tiêu chí xác định doanh nghiệp CNC” Điều 18, Luật CNC ban hành năm 2008 quy định: Doanh nghiệp CNC phải có đủ các điều kiện sau đây: a)“Sản xuất sản phẩm CNC thuộc Danh mục sản phẩm CNC được khuyến khích phát triển quy định tại Điều 6 Luật này” b) “Tổng chi bình quân của doanh nghiệp trong 3 năm liền cho hoạt động R&D được thực hiện tại Việt Nam phải đạt ít nhất 1% tổng doanh thu hằng năm, từ năm thứ tư trở đi phải đạt trên 1% tổng doanh thu” c) “Doanh thu bình quân của doanh nghiệp trong 3 năm liền từ sản phẩm CNC phải đạt ít nhất 60% trong tổng doanh thu hằng năm, từ năm thứ tư trở đi phải đạt 70% trở lên” d) “Số lao động của doanh nghiệp có trình độ chuyên môn từ đại học trở lên trực tiếp thực hiện R&D phải đạt ít nhất 5% tổng số lao động” đ) “Áp dụng các biện pháp thân thiện môi trường, tiết kiệm năng lượng trong sản xuất và quản lý chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam; trường hợp chưa có tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam thì áp dụng tiêu chuẩn của tổ chức quốc tế chuyên ngành” “Trong điều 75 của Luật đầu tư 2014, có sửa đổi bổ sung Điều 18 của Luật CNC năm 2008, quy định về các doanh nghiệp CNC như sau” “Doanh nghiệp CNC phải đáp ứng đủ các tiêu chí sau đây:” a) “Sản xuất sản phẩm CNC thuộc Danh mục sản phẩm CNC được khuyến khích phát triển quy định tại điều 6 của Luật này” b) “Áp dụng các biện pháp thân thiện môi trường, tiết kiệm năng lượng trong sản xuất và quản lý chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam; trường hợp chưa có tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam thì áp dụng tiêu chuẩn của tổ chức quốc tế chuyên ngành” c) “Tiêu chí khác theo quy định của Thủ tướng CP” 9 “Để làm rõ hơn các khái niệm về Doanh nghiệp CNC, CP đã đưa ra quy định về doanh nghiệp CNC trong Quyết định số 19/2015/QĐ-TTg, các tiêu chí cụ thể như sau: Doanh nghiệp CNC là doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chí quy định tại điểm a và b điều 75 của Luật đầu tư, đồng thời đáp ứng các tiêu chí sau: 1. Doanh thu từ sản phẩm CNC của doanh nghiệp phải đạt ít nhất 70% trong tổng doanh thu thuần hàng năm.
Tổng chi cho hoạt động R&D được thực hiện tại Việt Nam trên tổng doanh thu thuần hàng năm đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đạt ít nhất 1%. Đối với các doanh nghiệp có tổng nguồn vốn trên 100 tỷ đồng và có tổng số lao động trên 300 người tỷ lệ này phải đạt ít nhất 0,5%. Số lượng lao động có trình độ chuyên môn từ đại học trở lên trực tiếp thực hiện R&D trên tổng số lao động của doanh nghiệp đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đạt ít nhất 5%. Đối với các doanh nghiệp có tổng nguồn vốn trên 100 tỷ đồng và tổng số lao động trên 300 người tỷ lệ này phải đạt ít nhất 2,5% nhưng không thấp hơn 15 người.
Các thay đổi về quy định xác định tiêu chí doanh nghiệp CNC đã cho thấy CP đã thực hiện điều chỉnh quy định cho phù hợp với tình hình thực tế, phân tách đối với từng loại hình doanh nghiệp và chặt chẽ hơn. Điều này sẽ tạo hành lang pháp lý cụ thể, minh bạch cho việc xác định các doanh nghiệp được hưởng những ưu đãi đặc biệt của CP khi đầu tư vào Việt Nam. Các doanh nghiệp muốn hưởng những ưu đãi từ chính sách khuyến khích đầu tư lĩnh vực CNC của Nhà nước và các địa phương cần phải đạt được những tiêu chuẩn trên và phải được Bộ KHCN cấp giấy chứng nhận” 1. Sự cần thiết của thu hút FDI vào lĩnh vực CNC của một địa phương -“FDI lĩnh vực CNC bổ sung nguồn vốn cho lĩnh vực KHCN của địa phương, có tác động đến sự phát triển KHCN.
Do đặc điểm của việc đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ là cần nguồn nhân lực, nguồn vốn lớn nên các địa phương vẫn 10 gặp nhiều khó khăn khi kêu gọi đầu tư trong nước. Không chỉ Việt Nam mà các quốc gia đang phát triển cũng gặp phải khó khăn khi các nguồn vốn trong nước không đủ đầu tư cho lĩnh vực này, thực tế cho thấy các quốc gia đang phát triển phải dựa vào nguồn vốn đầu tư nước ngoài để phát triển KHCN trong nước và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế. - FDI trong lĩnh vực CNC sẽ giúp tăng trưởng kinh tế, tăng giá trị xuất khẩu.của địa phương. Các dự án FDI đầu tư vào lĩnh vực này thường là các dự án quy mô lớn, có nguồn vốn đầu tư lớn và hướng tới các mục tiêu xuất khẩu.
Các sản phẩm CNC cũng hàm chứa GTGT cao, giúp địa phương nâng cao số lượng và chất lượng tăng trưởng kinh tế. Mặt khác, các sản phẩm CNC của các doanh nghiệp nước ngoài không chỉ hướng tới thị trường trong nước mà thường là hướng tới xuất khẩu, đặc biệt là các công ty đa quốc gia. - FDI lĩnh vực CNC góp phần phát triển ngành CNHT của các địa phương. Khi các doanh nghiệp FDI đầu tư vào địa phương sẽ tạo ra các nhu cầu về các linh phụ kiện hỗ trợ.
Đây là cơ hội để các doanh nghiệp địa phương tham gia vào chuỗi giá trị, trở thành các nhà cung cấp cho doanh nghiệp FDI. Để thực hiện được điều này các doanh nghiệp địa phương cần đầu tư cải tiến công nghệ kỹ thuật, nâng cao năng lực sản xuất để có thể đáp ứng được nhu cầu. - FDI lĩnh vực CNC làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp cao. Cùng với sự tăng trưởng của nguồn vốn, FDI sẽ mang tới những công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm tổ chức quản lý cũng như tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao của địa phương.
Tùy thuộc vào nhu cầu của thị trường thế giới và các điều kiện ưu đãi, khuyến khích của CP và địa phương mà tỷ lệ các ngành CNC sẽ thay đổi.