Chương 1- Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu Trình bày vấn đề nghiên cứu, lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của bài nghiên Trang 3 cứu và kết cấu của luận văn. Chương 2- Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan Nội dung của chương này nhằm trình bày các quan niệm FDI, CCTM, các yếu tố liên quan đến CCTM. Mô hình và lý thuyết nghiên cứu liên quan của đề tài, các nghiên cứu trước (nghiên cứu trong nước và nước ngoài). Chương 3- Thiết kế nghiên cứu, Phương pháp nghiên cứu và Dữ liệu nghiên cứu.
Trình bày quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và nguồn dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu. Chương 4- Phân tích kết quả nghiên cứu. Chương này tổng hợp, mô tả thống kê về các biến cần quan sát, phân tích mô hình hồi quy đưa ra những so sánh, nhận xét từ các bằng chứng ước lượng của mô hình với các nghiên cứu trước. Chương 5- Kết luận và kiến nghị một số chính sách.
Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu được tìm ra và gợi ý một số chính sách. Trang 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN Chương này nhằm mục đích giới thiệu khung lý thuyết cho việc đo lường mức độ tác động của các chỉ số kinh tế đến CCTM ở các nước đang phát triển Châu Á, nội dung bao gồm: Trình bài các quan niệm về đầu tư quốc tế, các quan điểm và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài, cán cân thương mại và các yếu tố tác động đến cán cân thương mại như tổng sản phẩm nội địa, tỷ giá thực đa phương, chi tiêu chính phủ, dự trữ ngoại hối, lạm phát, điều kiện thương mại, tốc độ tăng trưởng trong nông nghiệp, tốc độ tăng trưởng trong sản xuất. Trình bày các lý thuyết về FDI và mối quan hệ FDI với thương mại quốc tế. Mô hình ba sự thiếu hụt thể hiện mối quan hệ giữa FDI và CCTM.
Các bằng chứng thực nghiệm về FDI và CCTM có mối quan hệ với nhau. Sau cùng là trình bày các bài nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài và mối quan hệ của FDI với CCTM.1 Đầu tư quốc tế Quan hệ kinh tế quốc tế xuất hiện từ khi con người thực hiện hành vi trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia. Đầu tư quốc tế ra đời muộn hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác. Tuy nhiên, từ khi xuất hiện lần đầu tiên trên thế giới vào khoảng cuối thời kỷ XIX đến nay, hoạt động đầu tư quốc tế đã có nhiều biến đổi sâu sắc.
Xu hướng chung là ngày càng tăng lên cả số lượng, quy mô, hình thức, thị trường, lĩnh vực đầu tư và vị trí, vai trò ngày càng to lớn trong các quan hệ kinh tế quốc tế. Đầu tư quốc tế là một hình thức di chuyển quốc tế về vốn, trong đó vốn được di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác để thực hiện một hoặc một số dự án đầu tư nhằm đem lại lợi ích cho các bên tham gia (Trịnh Thị Xuân Vân, 2012). Vốn đầu tư quốc tế có hai dòng chính: đầu tư của tư nhân và hỗ trợ phát triển chính thức của các chính phủ, các tổ chức quốc tế. Đầu tư của tư nhân được thực hiện dưới ba hình thức: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI); Đầu tư gián tiếp và Tín dụng thương mại.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài Cùng với xu hướng toàn cầu hóa, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã (đang) ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới.
Theo đó đã có nhiều quan điểm được đưa ra nhằm định nghĩa cho hành vi này như sau: Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, 1993) “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp”. Đối với quyền quản lý doanh nghiệp FDI, theo tổ chức Hợp Tác và Phát Triển (OECD, 1996) có thể thực hiện bằng các cách như: thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư, mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có, tham gia vào một doanh nghiệp mới, cấp tín dụng dài hạn (>5năm). Để có quyền kiểm soát nhà đầu tư cần nắm từ 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết trở lên. Theo Dunning (1970) sử dụng định nghĩa ngắn cho các công ty đa quốc gia (MNEs) là “bất cứ công ty thực hiện hoạt động sản xuất tại nhiều hơn một quốc gia” Theo Vernon (1971) đã nhấn mạnh thêm vấn đề quy mô và cơ cấu tổ chức của các MNEs.
Cụ thể “Các tập đoàn đa quốc gia là các công ty lớn tổ chức các hoạt động của họ ở nước ngoài thông qua một bộ phận tổ chức tích hợp, được lan truyền quốc tế và việc đầu tư của họ ở nước ngoài của họ dựa trên các sản phẩm và thị trường tiêu thụ”. Theo Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (2006). FDI thường được hình thành và sinh ra từ sự tương tác giữa lực lượng của nước chủ đầu tư và nước thu hút. Dòng vốn FDI sẽ chảy từ nước này sang nước khác và FDI xảy ra có thể chung quy là do ảnh hưởng của các yếu tố đẩy từ nước chủ đầu tư và yếu tố kéo của nước thu hút.
Một số yếu tố trong nước chủ đầu tư có xu hướng tạo động lực thúc đẩy hành vi đầu tư ra bên ngoài của FDI nhằm tìm kiếm một thị trường tìm năng hơn hay tăng hiệu quả kinh doanh với chi phí sản xuất thấp hơn ở nước thu hút. FDI có thể xảy ra theo xu hướng tác động của cả hai nhóm yếu tố: yếu tố “đẩy” của nước chủ đầu tư và yếu tố “kéo” của nước thu hút cùng với sự quan tâm từ cả hai phía chính phủ của các quốc gia này. Các chính sách ưu đãi vốn đầu tư nước ngoài Trang 6 được đưa ra bởi nước sở tại để thu hút vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu dựa trên các yếu tố có lợi thế cạnh tranh cao chẳng hạn như sự sẵn có của nguồn tài nghiên chứa lợi nhuận đầu tư cao hơn từ chi phí sản xuất thấp hơn. Tuy nhiên, những chính sách khuyến khích đơn giản như vậy thường không đủ và ít có tác động tốt trong việc thúc đẩy hơn nữa vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Nước chủ đầu tư, tốt hơn hết nên mở rộng hơn danh sách các yếu tố thúc đẩy và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài, trong khi đó nước thu hút cần tạo ra môi trường đầu tư thông thoáng, hiệu quả. Ngoài ra, theo Điều 3 Luật đầu tư năm 2005 mà Quốc hội khoá XI Việt Nam đã thông qua ngày 29-2-1987 có các khái niệm về “đầu tư”, “đầu tư trực tiếp”, “đầu tư nước ngoài”, “đầu tư ra nước ngoài” nhưng không có khái niệm “đầu tư trực tiếp nước ngoài”. Tuy nhiên, có thể “gộp” các khái niệm trên lại và có thể hiểu: “FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở nước ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo Ngô Thu Hà (2008), đầu tư trực tiếp nước ngoài có những đặc điểm cơ bản sau: Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiểu tùy theo quy định của luật đầu tư từng nước.
Tùy thuộc vào tình hình kinh tế, mục tiêu thu hút vốn và nhu cầu quản lý, các nước quy định các tỷ lệ góp vốn tối thiểu khác nhau. IMF đưa ra một ngưỡng góp vốn tối thiểu là 10% tổng vốn đầu tư. Quyền điều hành doanh nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn của chủ đầu tư trong vốn pháp định. Mức độ góp vốn càng cao thì mức độ ảnh hưởng của nhà đầu tư càng lớn.
Nếu góp 100% vốn pháp định thì nhà đầu tư toàn quyền quyết định hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Việc nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào quá trình điều hành quản lý doanh nghiệp giúp đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Lợi nhuận của các chủ đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và được chia theo tỷ lệ góp vốn trên vốn pháp định sau khi đã nộp thuế cho nước sở tại và trả cổ tức nếu có. Với FDI, các nhà đầu tư tự mình hạch toán lợi nhuận và chịu trách nhiệm về việc kinh doanh của mình do đó không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế.
Trang 7 FDI thường đi kèm với chuyển giao công nghệ. Dù có hay không có chủ ý thì trong quá trình chuyển vốn vào một nước nhà đầu tư cũng đem lại kèm theo dòng vốn đó máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất. Hơn nữa, để hoạt động có hiệu quả nhà đầu tư cũng sẽ áp dụng những kinh nghiệm quản lý mới và tăng cường đào tạo nhân lực. Chính vì đặc điểm này mà các nước, đặc biệt là các nước đang phát triến luôn chú trọng thu hút FDI để nhanh chóng hiện đại hóa nền kinh tế.3 Cán cân thương mại Là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cân thanh toán quốc tế.
CCTM ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (theo quý hoặc năm). Ta có : TB = X – M TB là cán cân thanh toán X là giá trị xuất khẩu M là giá trị nhập khẩu Một quốc gia có thâm hụt thương mại nếu nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu X-M < 0, ngược lại là X-M > 0 là thặng dư thương mại và khi chênh lệch = 0 tức là CCTM ở trạng thái cân bằng (Nguyễn Văn Tiến, 2012). Theo các báo cáo kinh tế vĩ mô World Bank, vì CCTM là thành phần quan trọng nhất trong tài khoản vãng lai và xuất khẩu ròng bằng chênh lệch giữa tiết kiệm trong nước và đầu tư trong nước, nên tài khoản vãng lai còn được thể hiện bằng chênh lệch này. Vì vậy sự thặng dư hay chênh lệch tài khoản vãng lai có quan hệ chặt chẽ với thâm hụt hay thặng dư CCTM.