Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách. 4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY GIỚI THIỆU CHƯƠNG 2 Mục tiêu của chương này giới thiệu các lý thuyết, kết quả nghiên cứu cổ điển và hiện đại của các nhà nghiên cứu về các lý do các công ty chọn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Phần 2, chương này nêu các nghiên cứu thực nghiệm về tác động trực tiếp, tác động gián tiếp FDI đối với công nghiệp hóa, vai trò của Chính phủ khi chọn lọc dòng vốn FDI và hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước bắt kịp các công ty đa quốc gia. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 2.
Lý thuyết giả sử thị trường hiệu quả a. Giả thuyết về tỷ suất thu hồi khác nhau Giả thuyết về tỷ suất thu hồi khác nhau là sự xuất hiện đầu tiên khi giải thích FDI. Dòng vốn sẽ chuyển từ nước có tỷ suất lợi nhuận thấp sang nước có tỷ suất lợi nhuận cao hơn, dẫn đến cân bằng tỷ suất lợi nhuận thực sự. Lý do giải thích cho giả thuyết này là các công ty xem xét hành vi FDI để cân bằng suất lợi nhuận và chi phí biên.
Giả thuyết này giả sử rằng rủi ro thị trường bằng không, vì vậy suất sinh lời chỉ dựa vào quyết định đầu tư. Phi rủi ro trong trường hợp này có nghĩa là nhà đầu tư xem xét nội địa và đầu tư nước ngoài như sự thay thế hoàn hảo. Trên thực tế, để kiểm định giả thuyết này đúng với giả thuyết hay không người ta kiểm tra mối liên hệ tỷ suất thu hồi tương quan giữa các quốc gia đầu tư và nước mà các quốc gia này đầu tư. Kết quả theo Agarwal (1980, Imad A.Moosa, 2002), Weintraub (1967, Imad A.Moosa, 2002), thì giả thuyết này không có ý nghĩa tương quan, nên bác bỏ giả thuyết.
Giả thuyết về quy mô thị trường Theo lý thuyết quy mô thị trường thì quy mô FDI ở nước nhận đầu tư phụ thuộc vào quy mô của thị trường nước đó, được đo lường thông qua doanh thu của 5 các MNC hay GDP của nước nhận đầu tư. Đây là lý giải cho FDI thay thế nhập khẩu. Khi quy mô thị trường tăng đến mức độ đảm bảo việc khai thác lợi thế nhờ quy mô thì quốc gia đó sẽ có tiềm năng để FDI vào.Moosa, 2002) đã nghiên cứu quy mô thị trường lớn một cách hiệu quả cho phép sự chuyên môn hóa các nhân tố để sản xuất, vì thế giúp các công ty tối thiểu hóa chi phí. Cách mà người ta kiểm định giả thuyết này là tìm ra mối tương quan giữa phần trăm FDI bởi một quốc gia vào nhóm các nước nhận đầu tư của quốc gia này, liên hệ với mức thu nhập của các nước nhận đầu tư.
Nghiên cứu thực nghiệm các nhân tố quyết định FDI bao gồm một số đo lường quy mô thị trường ở nước nhận đầu tư, Moore (1993, Imad A.Moosa, 2002), Bajo-Rubio và Sosvilla-Rivero (1994, Imad A.Moosa, 2002), Wang và Swan (1995, Imad A.Moosa, 2002) sử dụng GDP thực trong mô hình thực nghiệm của họ và khám phá ra rằng nó có ý nghĩa đối với FDI. Tuy nhiên, Yang và các cộng sự (2000, Imad A.Moosa, 2002) đã thất bại trong việc tìm ra mối quan hệ giữa dòng chảy vốn FDI và sự co giãn của GDP. Ngoài ra, theo Agarwal (1980, Imad A.Moosa, 2002), kết quả kiểm định GDP của nơi nhận đầu tư chỉ có ý nghĩa đối với FDI tìm kiếm thị trường, hay FDI sản xuất hàng tiêu dùng cho thị trường nước sở tại, không đúng với FDI xuất khẩu. Lý thuyết giả sử thị trường không hiệu quả a.
Lý thuyết tổ chức công nghiệp Hymer (1976, Imad A.Moosa, 2002) là nhà kinh tế học đầu tiên đã chỉ ra rằng cấu trúc thị trường và đặc trưng cụ thể của các công ty đầu tư có thể giải thích cho FDI. Lý thuyết này lập luận rằng, khi đầu tư ra nước ngoài, các tổ chức đầu tư sẽ chịu nhiều chi phí và rủi ro hơn các doanh nghiệp nước tiếp nhận đầu tư. Để cạnh tranh được, các doanh nghiệp sẽ sử dụng một số lợi thế như quy mô, kiến thức, sự khác biệt của sản phẩm và nhãn hiệu sản phẩm, công nghệ… để bù lại những chi phí phụ trội. Lý thuyết này không giải thích được tại sao các công ty lại chọn đầu tư trực tiếp mà không chọn một phương thức thâm nhập khác.
Lý thuyết quốc tế hóa Theo lý thuyết quốc tế hóa, vốn đầu tư nước ngoài phát sinh từ những nổ lực của các công ty để thay thế các giao dịch thị trường bằng các giao dịch nội bộ.Ý tưởng này là một phần mở rộng của công trình nghiên cứu bởi Coase (1937, Imad A.Moosa, 2002), đó là chi phí tiếp thị có thể tiết kiệm cho công ty. Lợi thế từ quốc tế hóa tránh thời gian giao dịch bị chậm trễ. Buckley & Casson (1976, Imad A.Moosa, 2002) cho rằng nếu thị trường trong các sản phẩm trung gian là không hoàn hảo, các công ty có động cơ để bỏ qua chúng bằng cách tạo ra thị trường nội bộ, như vậy mà các hoạt động liên kết bởi các thị trường mang lại sự sở hữu và kiểm soát. Có hai vấn đề với giả thuyết quốc tế hóa.
Thứ nhất, Rugman (1980, Imad A.Moosa, 2002) lập luận rằng giả thuyết không có thực nghiệm. Thứ hai, Buckley (1988) cho rằng lý thuyết này không được kiểm định trực tiếp. Tuy nhiên, Martin (1991, Imad A.Moosa, 2002) đã tìm thấy bằng chứng ảnh hưởng của chi phí giao dịch trên vốn đầu tư nước ngoài tại Hoa Kỳ. Lý thuyết địa điểm Theo lý thuyết lựa chọn địa điểm, FDI tồn tại vì một số yếu tố sản xuất như lao động, nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Những yếu tố này sẽ kéo theo sự khác nhau so sánh trong chi phí của yếu tố sản xuất.Moosa, 2002) đã sử dụng giả thuyết này để giải thích FDI của Mỹ vào Canada Một hình thức của sự khác nhau tương quan địa điểm trong chi phí của những yếu tố sản xuất là lợi thế về tiền lương thấp. Tuy nhiên, tiền lương cao phản ánh chất lượng lao động cao, trong trường hợp này mối quan hệ giữa FDI và tiền lương thấp bị bác bỏ. Nghiên cứu về chất lượng lao động của Wheeler & Moody (1990, Imad A.Moosa, 2002) đã chỉ ra sự khác nhau giữa các quốc gia về năng suất lao động có thể giải thích một phần tại sao một lượng FDI khổng lồ vào các nước công nghiệp tiền lương cao. 7 Lý thuyết lựa chọn địa điểm không chỉ gắn với tiền lương mà còn gắn với các yếu tố khác.
Các lý thuyết khác về đầu tư trực tiếp nước ngoài a. Lý thuyết tài trợ nội bộ Tài trợ nội bộ ở đây được liên hệ với sự hợp nhất lợi nhuận được làm ra của một chi nhánh ở nước ngoài – bởi MNC. Gỉa thuyết này được xây dựng bởi Barlow & Wender (1955, Imad A.Moosa, 2002), lý giải việc các MNC giao nguồn lực tân tiến nhất đối với đầu tư trực tiếp ban đầu của họ, trong khi đó việc mở rộng này được tài trợ bởi lợi nhuận tái đầu tư thu được bởi hoạt động tại nước nhận đầu tư. Điều này có ý nghĩa rằng tồn tại mối liên hệ tích cực giữa dòng ngân lưu nội bộ và hoạt động đầu tư, bởi vì sự tài trợ nội bộ có chi phí thấp hơn.
Theo Froot & Stein (1991, Imad A.Moosa, 2002), một trong những lý do tại sao tài trợ bên ngoài tốn kém hơn so với tài trợ nội bộ là thông tin không hoàn hảo trong thị trường vốn. Gỉa thuyết có vẻ thích hợp hơn để giải thích tại sao vốn đầu tư nước ngoài vào các nước đang phát triển có hai lý do: Thứ nhất, sự hiện diện của các hạn chế về sự dịch chuyển vốn. Thứ hai, cơ sở hạ tầng của thị trường tài chính thô sơ và không hiệu quả.Moosa, 2002) đưa ra một sự giải thích dựa trên thuế là lý do tại sao các MNC thích tài trợ nội bộ. Tác giả lập luận rằng, bởi vì thu nhập chuyển về nước và không thu nhập của công ty con thường là nguồn gốc của nghĩa vụ thuế của nước chủ đầu tư, thuế thu nhập ảnh hưởng đến vốn đầu tư nước ngoài rất khác nhau, tùy thuộc vào yêu cầu chuyển vốn từ công ty con về công ty mẹ - MNC.
Do đó, một công ty tài trợ vốn đầu tư nước ngoài sẽ xem xét thu nhập nước ngoài có thể chuyển về nhiều nhất có thể. Đó là quay trở lại, yêu cầu của một công ty nước ngoài được thiết lập tại các điểm mà tại đó mong muốn FDI chỉ làm cạn kiệt thu nhập của nước ngoài. Kết quả là, Hartman rút ra một sự phân biệt giữa dự án nước ngoài trưởng thành và chưa trưởng thành (hoặc các dự án khai thác và các chi nhánh), sau này phụ thuộc vào sự tài trợ của các MNC mà không thực hiện thêm 8 bất kỳ việc chuyển tiền nào.Moosa, 2002) kết luận rằng có một số hỗ trợ thực nghiệm cho giả thuyết này với ý nghĩa rằng FDI được xác định một phần bởi dòng vốn phát sinh từ nội bộ các chi nhánh của các MNC ở nước ngoài. Lý thuyết về khu vực tiền tệ và hiệu quả của tỷ giá hối đoái Aliber (1970 & 1971, Imad A.Moosa, 2002) đã đưa ra một giả thuyết và cố gắng giải thích FDI trong việc xem xét mức độ mạnh tương quan của các đồng tiền khác nhau.Gỉa thuyết này lập luận rằng các công ty ở các quốc gia có đồng tiền mạnh sẽ đầu tư ra nước ngoài, trong khi đó các công ty ở các quốc gia có đồng tiền yếu sẽ không có khuynh hướng như vậy.
Gỉa thuyết này dựa trên cơ sở mối quan hệ thị trường vốn, rủi ro tỷ giá hối đoái và sự tham chiếu thị trường cho việc nắm giữ tài sản định giá bởi đồng tiền mạnh, dựa trên danh tiếng đó có thể vay với lãi suất thấp hơn công ty địa phương ở nước có đồng tiền yếu, bởi vì ông cho rằng dòng thu nhập ở quốc gia có đồng tiền yếu được liên hệ với rủi ro tỷ giá hối đoái. Gỉa thuyết của Aliber có thể được kiểm định bởi mối quan hệ giữa giá trị của đồng tiền và dòng chảy vốn FDI. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRƯỚC ĐÂY Theo nghiên cứu của Echaudemaison (2003), mức độ công nghiệp hóa được tìm thấy thông qua sự tăng lên của tỷ trọng của số lượng lao động trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp.