Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu kinh tế. Chương 2: Thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào khu kinh tế Chân Mây – Lăng cô, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chương 3: Phương hướng phát triển và giải pháp thu hút vốn đầu tư FDI vào khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô, tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời gian đến. PHẦ, III: KẾT LUẬ, VÀ KIẾ, ,GHN 5 SVTH: Lê Thị 1y Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.
TS Phan Văn Hòa PHẦ II: ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: CƠ SỞ LÍ LUẬ VÀ THỰC TIỄ VỀ VỐ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP ƯỚC GOÀI VÀO KHU KI H TẾ 1.1 Tổng quan về FDI và vốn FDI 1.1 Khái niệm FDI và vốn FDI 1.1 Khái niệm FDI Có nhiều khái niệm về Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tiếng Anh: Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này. + Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là đầu tư có lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp tại một nước khác (nước nhận đầu tư), không phải nước mà doanh nghiệp đang hoạt động (nước đi đầu tư) với mục đích quản lý một cách có hiệu quả doanh nghiệp”.
[8] Luật Đầu tư 2005 của Việt ,am cũng có định nghĩa về Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) như sau: Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt ,am vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư. ,hư vậy, FDI xét theo định nghĩa pháp lý của Việt ,am, là hoạt động bỏ vốn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài vào lãnh thổ Việt ,am với điều kiện họ phải tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó.2 Khái niệm vốn FDI 6 SVTH: Lê Thị 1y Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS Phan Văn Hòa Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư nước ngoài đã đóng góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất và dịch vụ để có thể trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý quản lý quá trình sử dụng và thu hồi vốn hỗ trợ.2 Đặc điểm FDI và vốn FDI 1.1 Đặc điểm FDI - Mục đích đầu tư hàng đầu của FDI là tìm kiếm lợi nhuận thu về cho nhà đầu tư. - Các nhà đầu tư phải đóng góp đủ số vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định của từng nước để có thể kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư.
- Các nước nhận đầu tư phả có hành lang pháp lý để thu hút đầu tư đó tạo điều kiện thúc đNy kinh tế, xã hội, tránh trường hợp FDI chỉ phục vụ cho mục đích đầu tư. - Tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời lợi nhuận và rủi ro cũng được phân chia dựa vào tỷ lệ này. - Thu nhập mà chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghệp mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không phải lợi tức. - Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi.
Nhà đầu tư nước ngoài được quyền tự lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình tức đâu tư, thị trường đầu tư, quy mô đầu tư cũng như công nghệ cho mình, do đó sẽ tự đưa ra những quyết định có lợi nhất cho họ. - FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư. Thông qua hoạt động FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lí.2 Đặc điểm của vốn FDI - Thứ nhất, chủ đầu tư vốn FDI là chủ sở hữu vốn, là một bộ phận của hình thức chuyển vốn quốc tế trong đó chủ đầu tư có quốc tịch nước ngoài, tiến hành đầu tư 7 SVTH: Lê Thị 1y Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS Phan Văn Hòa tại một nước khác vì vậy nhà đầu tư nước ngoài phải chấp hành luật pháp của nước tiếp nhận đầu tư.
Chủ sở hữu vốn đầu tư trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình sử dụng vốn, có nghĩa vụ và quyền lợi từ hoạt động sản xuất kinh doanh tương ứng với phần vốn góp đó. Trong trường hợp nhà đầu tư nước ngoài đầu tư dưới hình thức 100% vốn thì có toàn quyền quyết định, nếu góp vốn thì quyền này phụ thuộc vào mức độ góp vốn. Thu nhập từ hoạt động đầu tư này phụ thuộc hoàn toàn vào kết quả sản xuất kinh doanh, mức độ lãi được chia theo tỷ lệ góp vốn của các bên, nếu bị lỗ thì trách nhiệm của các bên cũng tương ứng với phần góp vốn đó. - Thứ hai, vốn FDI không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư nước ngoài dưới hình thức vốn điều lệ hoặc vốn pháp định mà nó còn bao gồm cả vốn vay của các nhà đầu tư để triển khai và mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư được trích lại từ lợi nhuận sau thuế từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Vì vậy, nước sở tại phải có chính sách về tài chính phù hợp tránh trường hợp một số nhà đầu tư nước ngoài lợi dụng chỉ đưa một lượng vốn nhỏ vào còn sau đó tiến hành vay vốn tại nước sở tại để thực hiện đầu tư, mở rộng kinh doanh làm ảnh hưởng đến mục đích thu hút đầu tư nước ngoài của nước sở tại. - Thứ ba, vốn FDI là vốn đầu tư phát triển dài hạn, trực tiếp từ bên nước ngoài vì vậy đối với nước tiếp nhận đầu tư thì đây chính là nguồn vốn dài hạn bổ sung hết sức cần thiết trong nền kinh tế. Vốn FDI là dòng vốn quốc tế gắn liền với việc xây dựng các công trình, nhà máy, chi nhánh sản xuất vì thế thời gian đầu tư dài, lượng vốn đầu tư lớn, có tính ổn định cao tại nước nhận đầu tư. Khác với đầu tư gián tiếp nước ngoài, là hình thức đầu tư mà nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư đến các nước khác nhưng không nắm quyền quản lý, điều hành thông qua các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu… Đặc điểm của đầu tư nước ngoài gián tiếp là có thời gian hoạt động ngắn, biến động bất thường hơn vì đây là hình thức mà nhà đầu tư nước ngoài thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
Do tính chất trực tiếp của hình thức đầu tư này nên vốn FDI ít chịu sự chi phối, ràng buộc của chính phủ so với các 8 SVTH: Lê Thị 1y Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS Phan Văn Hòa hình thức đầu tư gián tiếp nước ngoài khác, lĩnh vực mà vốn FDI thường hướng tới là những lĩnh vực mang lại lợi nhuận cao cho nhà đầu tư nước ngoài. - Thứ tư, vốn FDI là hình thức đầu tư trực tiếp của các nhà đầu tư nước ngoài, họ mang vốn đến nước khác để đầu tư. Vì vậy, khác với các nguồn vốn vay, vốn FDI tại nước sở tại không phải hoàn trả nợ và cũng không tạo gánh nặng nợ quốc gia, đây là một ưu điểm so với các hình thức đầu tư nước ngoài khác.
Việc mang vốn từ bên ngoài vào đầu tư tại nước sở tại sẽ tạo thêm nhiều vốn cho đầu tư, nhất là những nước đang phát triển và vốn này không phải là khoản nợ của quốc gia, sẽ đảm bảo an ninh tài chính cho quốc gia tiếp nhận vốn tốt hơn nhiều so với các khoản vốn vay quốc gia khác. Để được gọi là vốn FDI thì phía nhà đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ nhất định, lượng vốn này tùy theo quy định của từng nước và được thay đổi thay đổi theo thời gian. - Thứ năm, vốn FDI là hình thức xuất khNu tư bản nhằm thu lợi nhuận cao và các nhà đầu tư nước ngoài quyết định về quy mô và sử dụng vốn FDI. Do các nhà đầu tư nước ngoài luôn hướng tới mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận cao nên có thể gây ra nhiều thiệt thòi, tổn thất ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia và mục tiêu thu hút vốn của nước nhận đầu tư.
Quy định về vốn đầu tư tư trực tiếp nước ngoài tại Việt ,am Đầu tư nước ngoài mang đầy đủ những đặc trưng của đầu tư nói chung nhưng có một số đặc trưng khác với đầu tư trong nước đó là: - Chủ đầu tư có quốc tịch nước ngoài. - Các yếu tố đầu tư được di chuyển ra khỏi biên giới. - Vốn đầu tư có thể là tiền tệ, vật tư hàng hóa, tư liệu sản xuất, tài nguyên thiên nhiên nhưng được tính bằng ngoại tệ. Cụ thể: + Về vốn góp: Các chủ đầu tư nước ngoài đóng một lượng vốn tối thiểu theo quy định của nước nhận đầu tư để họ có quyền trực tiếp tham gia điều phối, quản lý quá trình 9 SVTH: Lê Thị 1y Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.
TS Phan Văn Hòa sản xuất kinh doanh. Ở Việt Nam luật đầu tư nước ngoài đưa ra điều kiện: phần vốn góp của bên nước ngoài không dưới 30% vốn pháp định, trừ những trường hợp do chính phủ quy định. + Về quyền điều hành quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào mức vốn góp. Nếu nhà đầu tư thành lập công ty 100% vốn nước ngoài thì quyền điều hành hoàn toàn thuộc về nhà đầu tư nước ngoài, có thể trực tiếp hoặc thuê người quản lý.
+ Về phân chia lợi nhuận: dựa trên kết quả sản xuất kinh doanh, lãi lỗ đều được phân chia theo tỷ lệ vốn góp trong vốn pháp định.3 Phân loại FDI và vốn FDI 1.1 Phân loại FDI Có nhiều cách phân loại FDI khác nhau tùy vào từng giác độ tiếp cận: Theo hình thức thâm nhập: - Đầu tư mới: Đầu tư mới là hoạt động đầu tư trực tiếp vào các cơ sở sản xuấ kinh doanh hoàn toàn mới ở nước ngoài hoặc mở rộng một cơ sở sản xuất kinh doanh đã tồn tại.