phần mở đầu và phần kết luận, kiến nghị thì luận văn gồm có 3 chương như sau: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài. Chƣơng 2: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Champasak, nước CHDCND Lào trong thời gian qua. Chƣơng 3: Giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Champasak, nước CHDCND Lào trong thời gian tới. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Cho đến này đã có nhiều nhà lý luận và thực tiễn nghiên cứu về thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng được công bố dưới dạng chuyên đề, luận văn thạc sỹ, luận án tiến sĩ, các bài viết đăng trên các báo, tạp chí tại Việt Nam và các quốc gia trên thế giới.
Điển hình như một số công trình dưới đây: 6.1 Nghiên cứu tại nước ngoài Fawaz nghiên cứu tầm quan trọng của các yếu tố địa điểm đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong ngành công nghiệp hóa dầu ở Saudi Arabia thông qua khảo sát nhà quản lý cấp cao. Các yếu tố được tác giả xác định là chi phí, thị trường, cơ sở hạ tầng và công nghệ, chính trị và pháp luật, văn hóa - xã hội. Kết quả nghiên cứu của đề tài cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến địa điểm của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lần lượt là chi phí, cơ sở hạ tầng và công nghệ, chính trị và pháp luật, thị trường, văn hóa xã hội. Mặc dù, ở các vùng địa lý khác nhau, lĩnh vực, quy mô thu hút đầu tư khác nhau thì các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng 4 thay đổi nhưng nghiên cứu này cũng mang lại nhiều hữu ích cho các nhà nghiên cứu cũng như các nhà quản lý đánh giá đúng hơn về các yếu tổ ảnh hưởng đến địa điểm đầu tư của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Đây cũng là tài liệu cơ sở quan trọng giúp tác giả hình thành cơ sở lý luận cũng như lựa chọn phương pháp nghiên cứu cho đề tài. Hasnah và công sự nghiên cứu tầm quan trọng các yếu tố địa điểm đối với dòng chảy đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Malaysia qua khảo sát 100 doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đề tài sử dụng mô hình hồi quy Binary Logistic để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu của đề tài cho thấy các yếu tố kinh tế, nguyên liệu, năng lượng ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê, các yếu tố như thị trường, dịch vụ vận tải, luật pháp, quốc tế, lao động, cung cấp điện, nước có ảnh hưởng tích cực nhưng không có ý nghĩa thống kê.2 Một số nghiên cứu tại Việt Nam - Trung tâm Thông tin Kinh tế - Viện Nghiên cứu Phát triển Tp.Hồ Chí Minh (2009): “Xu hướng Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI: Foreign Direct Investment) của các công ty đa quốc gia (TNCs: Trans National Companies) hiện nay” Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của một số nước khu vực Châu Á khi đã là thành viên của WTO và rút kinh nghiệm cho Việt Nam.
Kinh nghiệm quý báu này nhằm giúp cho thành phố biển có thể phát triển thành công thành một trong nhưng điểm đến lý tưởng cho du khách quốc tế và quốc nội. - "Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của các nước đang phát triển Châu Á và khả năng vận dụng vào Việt Nam" của tác giả Hoàng Xuân Hải đã nghiên cứu những kết quả đạt được của nước ta trong lĩnh vực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. 5 - "Thu hút đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia" của tác giả Hoàng Thị Bích Loan viết về vai trò của các công ty xuyên quốc gia trong lưu chuyển đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu, chiến lược đầu tư trực tiếp của công ty xuyên quốc gia và viết về toàn cảnh thực trạng đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia gần 20 năm qua, triển vọng, phương hướng, giải pháp thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của các công ty xuyên quốc gia vào Việt Nam trong những năm tới - "Tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam" của tác giả Lê Xuân Bá và Nguyễn Thị Tuệ Anh, năm 2006 đã nêu ra được tác động tích cực, tác động chưa tích cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Việt Nam. - "Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư nước ngoài của các nước ASEAN và vận dụng vào Việt Nam" của tác giả Nguyễn Huy Thám (Luận án Tiến sĩ kinh tế, năm 1999) đã đưa ra một số kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước ASEAN, đánh giá thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam và đưa ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.
- "Một số biện pháp thức đẩy việc triển khai thực hiện các dự án FDI tại Việt Nam" của tác giả Bùi Huy Nhượng (Luận án TS kinh tế, năm 2006) đánh giá việc triển khai thực hiện các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài và đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy việc triển khai các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam. - Luận văn tiến sỹ kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh của nghiên cứu sinh: Vilayvong Butdakham (2010) “Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong phát triển kinh tế - xã hội của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào”. Nghiên cứu này nêu lên thực trạng FDI tại CHDCND Lào được phân tích theo một hướng mới: Bắt đầu nghiên cứu từ hệ thống chính sách thu 6 hút FDI là một phương pháp phù hợp với đặc thù đổi mới kinh tế của CHDCND Lào. Qua đó, những đổi mới từ hệ thống thể chế và những thay đổi của thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của CHDCND Lào có được mối liên hệ chặt chẽ, gắn bó.
Bên cạnh đó, những đóng góp của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến nền kinh tế của CHDCND Lào được phân tích dựa trên những đánh giá mối liên hệ giữa đổi mới thể chế và đổi mới thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Và nhiều tác phẩm liên quan khác. Trong các công trình đó, các tác giả đã có nhiều đóng góp quan trọng, làm rõ tính hai mặt của đầu tư trực tiếp nước ngoài, đề xuất các chính sách, giải pháp cốt lõi của nhà nước đối với việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt nam. Vấn đề thu hút FDI của tỉnh Champasak cho đến nay chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, thường mới được đề cập ở mức độ các báo cáo của các cơ quan chức năng.
Tính đến thời điểm hiện nay, chưa có một công trình nghiên cứu, luận văn về vấn đề thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Champasak. Vì vậy việc lựa chọn đề tài “Giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Champasak, nước CHDCND Lào” để nghiên cứu của luận văn là mới và cần thiết về cả lý luận lẫn thực tiễn. 7 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 1. KHÁI QUÁT VỀ THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 1.
Một số định nghĩa a. Đầu tư Có rất nhiều quan niệm về đầu tư, ở mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau các nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm về đầu tư có nhiều điểm khác biệt. Điển hình như: Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), đầu tư là “hành động bỏ vốn vào doanh nghiệp, một công trình hay một sự nghiệp bằng nhiều biện pháp như cấp ngân sách, vốn tự có, liên doanh hay vay dài hạn để mua sắm thiết bị mới, hoặc thực hiện việc hiện đại hóa, mở rộng xí nghiệp nhằm thu doanh lợi hay phát triển phúc lợi công cộng”. Cách định nghĩa này nhấm mạnh vào đầu tư phát triển, vào hình thái biểu hiện và động lực của đầu tư, nhưng không làm rõ bản chát cũng như chưa phản ánh được nội dung đầy đủ của đầu tư.
[11] Theo Nguyễn Ngọc Mai với Giáo trình Kinh tế đầu tư thì “Đầu tư là sự bỏ ra, sự hy sinh những cái gì đó ở hiện tại (tiền, sức lao động, của cải vật chất trí tuệ) nhằm đạt được kết quả có lợi ích cho người đầu tư trong tương lai”. Định nghĩa này nêu được đặc tính khái quát của đầu tư là hành vi bỏ vốn trong hiện tại nhằm đạt được lợi ích trong tương lai. Tuy nhiên, cách tiếp cận của định nghĩa này rộng dễ gây nhầm lẫn giữa hành vi lao đồng bình thường với hành vi đầu tư thực sự của chủ đầu tư. Theo luật đầu tư năm 2005 của Việt Nam: Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các loại hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định 8 khác của pháp luật có liên quan”.
Về mặt khoa học, cách định nghĩa này quá chung chung. Dù có nhiều định nghĩa về đầu tư tùy thuộc và quan điểm và góc nhìn của mỗi nhà nghiên cứu. Nhưng có thể hiểu “Đầu tư là hoạt động sử dụng tiền vốn, tài nguyên để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội”. Hoạt động đầu tư có những đặc điểm chính như sau: Trước hết phải có vốn.
Vốn có thể bằng tiền, bằng các loại tài sản khác như máy móc, thiết bị, nhà xưởng, công trình xây dựng khác, giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật, giá trị quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển, các nguồn tài nguyên khác. Vốn có thể là vốn Nhà nước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn cổ phần, vốn vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn. Một đặc điểm khác của đầu tư là thời gian tương đối dài, thường từ 2 năm trở lên, có thể đến 50 năm, nhưng tối đa cũng không quá 70 năm. Những hoạt động ngắn hạn, thường trong vòng 1 năm tài chính không được gọi là đầu tư.
Thời hạn đầu tư được ghi rõ trong Quyết định đầu tư hoặc Giấy phép đầu tư, và còn được gọi là đời sống của dự án.