CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI 2.1 Khái niệm về cán cân thương mại và xuất nhập khẩu 2.1 Cán cân thương mại Là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cân thanh toán quốc tế. Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm) cũng như mức chênh lệch (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) giữa chúng. Khi mức chênh lệch là lớn hơn 0, thì cán cân thương mại có thặng dư. Ngược lại, khi mức chênh lệch nhỏ hơn 0, thì cán cân thương mại có thâm hụt.
Khi mức chênh lệch đúng bằng 0, cán cân thương mại ở trạng thái cân bằng. Cán cân thương mại còn được gọi là xuất khẩu ròng hoặc thặng dư thương mại. Khi cán cân thương mại có thặng dư, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại mang giá trị dương. Khi cán cân thương mại có thâm hụt, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại mang giá trị âm.
Lúc này còn có thể gọi là thâm hụt thương mại. Tuy nhiên, cần lưu ý là các khái niệm xuất khẩu, nhập khẩu, xuất khẩu ròng, thặng dư/thâm hụt thương mại trong lý luận thương mại quốc tế rộng hơn các trong cách xây dựng bảng biểu cán cân thanh toán quốc tế bởi lẽ chúng bao gồm cả hàng hóa lẫn dịch vụ. Xuất khẩu ròng: là sự chênh lệch xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ (hay xuất khẩu thuần hàng hoá dịch vụ) là hiệu số của xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ trừ đi nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ. Xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ bao gồm toàn bộ sản phẩm vật chất và dịch vụ được mua bán, trao đổi, chuyển nhượng giữa các đơn vị, tổ chức, cá nhân dân cư là đơn vị thường trú của Việt Nam với các đơn vị không thường trú (giữa các đơn vị thường trú của Việt Nam với nước ngoài).
Trong tài khoản quốc gia, xuất khẩu và nhập khẩu đều tính theo giá FOB. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI 6 2.2 Xuất khẩu Xuất khẩu là việc bán hàng ra nước ngoài nhằm phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống. Song mua bán ở đây có những nét riêng và phức tạp hơn mua bán trong nước như giao dịch với người có quốc tịch khác nhau, thị trường rộng lớn và khó kiểm soát, mua bán qua trung gian chiếm tỷ trọng lớn, đồng tiền thanh toán là ngoại tệ, hàng hóa phải chuyển qua biên giới, cửa khẩu của các quốc gia, phải tuân theo tập quán thông lệ quốc tế cũng như địa phương. Xuất khẩu là một hoạt động cơ bản của ngoại thương, là một vấn đề hết sức quan trọng của kinh doanh quốc tế, là sự phát triển tất yếu của sản xuất và lưu thông nhằm tạo hiệu quả kinh tế cao nhất trong mỗi nền kinh tế.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi toàn cầu, trong tất cả các lĩnh vực. Vì vậy vai trò của xuất khẩu là rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân như tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu, phục vụ, thúc đẩy sản xuất phát triển, xây dựng nền kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân, đẩy mạnh việc tăng ngoại tệ để tích lũy vốn và góp phần nhà nước mở rộng quan hệ kinh tế với thế giới. Hơn nữa, xuất khẩu còn có vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp vì nó tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có cơ hội mở rộng thị trường và quan hệ kinh doanh ,cơ hội tiếp thu và phát triển kỹ thuật công nghệ tiên tiến, phát triển hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Xuất khẩu chủ yếu phụ thuộc vào những gì đang diễn biến tại các quốc gia khác vì xuất khẩu của nước này chính là nhập khẩu của nước khác.
Do vậy nó chủ yếu phụ thuộc vào sản lượng và thu nhập của các quốc gia bạn hàng. Chính vì thế trong các mô hình kinh tế người ta thường coi xuất khẩu là yếu tố tự định. Ngoài ra, xuất khẩu là một trong ba nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến cán cân thương mại gồm nhập khẩu, xuất khẩu và tỷ giá hối đoái. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI 7 2.3 Nhập khẩu Nhập khẩu là việc mua bán và trao đổi hàng hóa dịch vụ của nước này với nước khác, trong giao dịch dùng ngoại tệ của một nước hay một ngoại tệ mạnh trên thế giới để trao đổi.
Còn trong lý luận thương mại quốc tế, việc quốc gia này mua hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia khác. Nói cách khác, đây chính là việc nhà sản xuất nước ngoài cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người cư trú trong nước. Hoạt động nhập khẩu là hoạt động mua bán quốc tế, nó là một hệ thống các quan hệ mua bán rất phức tạp và tổ chức từ bên trong ra bên ngoài. Vì thế các hoạt động nhập khẩu đem lại hiệu quả kinh tế cao, nhưng nó cũng có thể gây ra hậu quả do tác động với cả hệ thống kinh tế bên ngoài, mà một quốc gia tham gia nhập khẩu không thể khống chế được, hay nói cách khác, nhập khẩu cũng là một yếu tố tự định.2 Khái niệm về nguồn vốn FDI (đi vào) Theo tổ chức thương mại thế giới: nguồn vốn FDI là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất kinh doanh.
Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này. Theo IMF trong Balance of payment manual, Fifth edition, 1993: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là loại hình đầu tư quốc tế mà nhà đầu tư nước này đặt lợi ích dài hạn trong các công việc đầu tư và kinh doanh ở doanh nghiệp tại một nước khác. Mục tiêu của nhà đầu tư là giành được một mức độ ảnh hưởng hiệu quả trong quản lý. Theo OECD trong The Detailed Benchmarch Definition of Foreign Investment, Third edition, 1996: Đầu tư trực tiếp nước ngoài thể hiện mục tiêu đạt được mục đích dài hạn của một nhà đầu tư vào một nền kinh tế.
Lợi ích dài hạn nghĩa là sẽ tồn tại một mối quan hệ lâu dài giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp; và nhà đầu tư sẽ có một mức độ ảnh hưởng đáng kể trong quản lý doanh nghiệp. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI 8 Theo luật Việt Nam: Ngày 12-11-1996, Quốc hội đã thông qua luật mới về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Theo điều 2 của luật này, FDI là “việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam”. Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất cứ tài sản nào vào quốc gia đó để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với múc tiêu tối đa hóa lợi ích của mình.
Tài sản trong khái niệm này, theo thông lệ quốc tế là tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, bất động sản, các loại hợp đồng và giấy phép có giá trị…), tài sản vô hình (quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết và kinh nghiệm quản lý… ) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấy ghi nợ…). Như vậy, FDI bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh tế có yếu tố nước ngoài.3 Các lý thuyết về mối quan hệ giữa FDI và cán cân thương mại 2.1 Các lý thuyết FDI tác động đến cán cân thương mại và ngược lại 2.1 FDI tác động cán cân thương mại Có hai quan điểm được thể hiện như sau: Theo lý thuyết vòng đời quốc tế của sản phẩm- IPLC- Raymond Vernon: FDI có ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu. Lý thuyết này cho thấy FDI vừa thay thế, vừa bổ sung cho thương mại quốc tế, FDI làm giảm nhập khẩu thành phẩm từ nước chủ đầu tư sang nước nhận đầu tư, mặc khác làm tăng nhập khẩu máy móc, nguyên liệu từ nước chủ đầu tư sang nước nhận đầu tư, tăng xuất khẩu từ nước nhận đầu tư sang nước chủ đầu tư và ra thị trường thế giới. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI 9 Ban đầu phần lớn các sản phẩm mới được sản xuất tại nước phát minh ra nó và được xuất khẩu đi các nước khác .Nhưng khi sản phẩm mới được chấp nhận rộng rãi trên thị trường thế giới thì sản xuất bắt đầu tiến hành ở các nước khác.
Lý thuyết về thương mại quốc tế và tính lưu động của yếu tố sản xuất- “International trade and Factor mobility”- Mundell thể hiện lý thuyết FDI có khả năng thay thế hoạt động xuất nhập khẩu Trong nghiên cứu này dựa vào mô hình H-O-S, Mundell đã chỉ ra rằng có sự thay thế giữa dòng thương mại quốc tế và dòng di chuyển các yếu tố sản xuất. Trong cùng các điều kiện giải thuyết như mô hình H-O-S, sự lưu chuyển hoàn hảo của các yếu tố sản xuất giữa các khu vực trong nền kinh tế tạo nên xu hướng san bằng giá cả như là hệ quả của việc trao đổi hàng hóa, ngay cả khi không có sự di chuyển quốc tế của các nhân tố sản xuất. Mundell nghiên cứu mối quan hệ giữa luồng di chuyển các yếu tố sản xuất và hàng hoá quốc tế trong mô hình H-O-S .Ông xem xét tình huống, khi hàng rào thuế quan quá cao, đánh vào hàng nhập khẩu, gây đình trệ hoạt động thương mại và làm tăng sự phụ thuộc về thuế quan. Dòng vốn đổ vào tiếp tục cho đến khi tiềm lực về các yếu tố sản xuất là như nhau.
Khi đó, giá cả các yếu tố sản xuất cũng như giá cả hàng hóa đều được san bằng trên phạm vi các quốc gia và lúc này dù có bãi bỏ hoàn toàn hàng rào thuế quan thì giữa các quốc gia vẫn không xuất hiện dòng lưu chuyển hàng hóa. Như vậy, Mundell khẳng định được FDI có khả năng thay thế hoạt động xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, ông chưa xem xét đến một nguyên nhân khác làm phát sinh hoạt động thương mại quốc tế, đó là sự khác biệt về sản phẩm và thị hiếu của từng khu vực thị trường.