CHƯƠNG 1 HÀNG HOÁ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN, KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN HÀNG(HOÁ CHO TTCK 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHỨNG KHOÁN 1.1 Chứng khoán là gì ? Trong lịch sử phát triển kinh tế xã hội cho thấy khi nền kinh tế hàng hoá tiền tệ ra đời và phát triển thì sản phẩm làm ra nhiều hơn, ngoài đáp ứng nhu cầu tiêu dùng đã có một bộ phận giá trị đem vào tích lũy. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu tích lũy và đầu tư trong xã hội cũng xuất hiện và tăng lên không ngừng. Lúc này xã hội xuất hiện một số chủ thể cần tiền vốn sử dụng cho mục đích đầu tư hay tiêu dùng, đồng thời lại tồn tại những chủ thể có tiền vốn nhàn rỗi và muốn đầu tư để sinh lợi.
Ban đầu những chủ thể này thường giao dịch trực tiếp với nhau bằng hiện vật hay bằng tiền và dựa trên quan hệ quen biết cá nhân. Sau đó, khi nền kinh tế phát triển thì phương thức và phương tiện giao dịch giữa các chủ thể cũng trở nên phong phú và đa dạng hơn. Phương thức giao dịch không chỉ là gặp gỡ trực tiếp mà còn được bổ sung và phát triển bằng việc giao dịch thông qua các tổ chức tài chính trung gian và qua thị trường tài chính. Cũng trong quá trình này, phương tiện giao dịch giữa các chủ thể cung cầu vốn không chỉ là tiền mặt hay hiện vật mà còn được bổ sung và phát triển bằng các công cụ tài chính khác nhau.
Trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội nhà nước và các doanh nghiệp đã phát hành một loại công cụ tài chính - giấy ghi nợ để vay tiền của công chúng, loại chứng từ 5 này được gọi là trái phiếu. Bên cạnh đó, với sự ra đời của công ty cổ phần đã làm xuất hiện một phương tiện tài chính huy động vốn góp vào công ty được gọi là cổ phiếu. Cả hai loại phương tiện tài chính đó đều được gọi chung là chứng khoán. Chứng khoán là gì? Theo “Từ điển thuật ngữ chứng khoán”, các tác giả cho rằng chứng khoán là một công cụ chứng nhận quyền sở hữu của cổ đông trong một công ty (đối với cổ phiếu) hoặc xác nhận quan hệ giữa chủ nợ ( trái chủ) với một công ty hay một cơ quan chính phủ (đối với trái phiếu), xác nhận các quyền sở hữu được thể hiện bằng quyền lựa chọn, quyền đăng ký mua, quyền đảm bảo đăng ký mua.
Cổ phiếu và trái phiếu là những loại hình chứng khoán cụ thể biểu hiện bằng chứng xác nhận người chủ sở hữu đã bỏ tiền vốn ra đầu tư nhằm đạt được những quyền lợi và lợi Ých nhất định. Tuy nhiên, ngoài cổ phiếu và trái phiếu là hai loại chứng khoán chủ yếu còn xuất hiện nhiều loại chứng khoán khác như chứng chỉ quỹ đầu tư, hợp đồng quyền lựa chọn, hợp đồng tương lai. Đây cũng là những công cụ xác nhận những quyền và lợi Ých nhất định của chủ thể sở hữu đối với chủ thể phát hành. Ngày nay, với việc ứng dụng mạnh mẽ những thành tựu khoa học kỹ thuật vào các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội đã đưa đến những thay đổi lớn trong lĩnh vực chứng khoán, thay vì việc phát hành các chứng khoán dưới dạng giấy tờ, người ta còn có thể sử dụng các thiết bị điện tử để ghi nhận sự tồn tại của chứng khoán, đây được coi là sự phi vật chất hoá các chứng khoán.
Chính vì điều này đã làm thay đổi nhận thức mang tính truyền thống về hình thức tồn tại của chứng khoán. Chứng khoán không chỉ tồn tại dưới dạng chứng chỉ mà còn gồm cả dạng bút toán ghi sổ. Ở Việt Nam, nghị định số 144/2003/NĐ-CP đã chỉ rõ : Chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận các quyền và lợi Ých hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành. 6 Cho dù xem xét chứng khoán dưới góc độ này hay góc độ kia, chóng ta đều có thể thấy rằng chứng khoán là một loại hình công cụ tài chính đại biểu cho một số tiền nhất định mà người sở hữu đã bỏ ra để được hưởng những quyền và lợi Ých hợp pháp đối với người phát hành.
Để đáp ứng nhu cầu của người đầu tư trong việc lưu động hoá tiền vốn, các chứng khoán này được đem ra thị trường để mua bán. Thông qua hoạt động mua bán trên TTCK vốn đã thực sự trở thành một loại hàng hoá, có giá cả cụ thể. Chứng khoán là hàng hoá đặc biệt được lưu thông trên TTCK, nó khác với các loại hàng hoá được lưu thông trên các thị trường khác. Tất cả các loại chứng khoán sau khi được phát hành thường được kiểm tra kỹ càng trước khi đưa vào lưu thông trên thị trường thứ cấp.
Sau khi nó được mua bán trên TTCK, nó tiếp tục được theo dõi, đánh giá, xếp hạng và được chăm sóc sức khoẻ thường xuyên. nếu thấy kém chất lượng, ảnh hưởng đến người đầu tư thì nó có thể bị loại ra khỏi thị trường. Chứng khoán vì thế là các loại hàng hoá có tính chọn lọc và có khả năng mua bán nhanh. Cách thức giao dịch, mua bán chứng khoán cũng khác so với hàng hoá thông thường khác.
Trên TTCK tập trung, các nhà đầu tư không đựoc trực tiếp gặp nhau để mua bán chứng khoán mà phải nhờ các nhà môi giới trung gian thực hiện giúp. Nguyên tắc này đảm bảo các chứng khoán được giao dịch là chứng khoán thực, hợp pháp, tránh sự giả mạo, lừa đảo trong giao dịch đồng thời đảm bảo vai trò quản lý, kiểm soát của nhà nước và cơ quan tổ chức thị trường nhằm hạn chế rủi ro cho các nhà đầu tư. Đặc trưng cơ bản của chứng khoán Mỗi loại thị trường đều có hàng hoá đặc trưng, chứng khoán là một loại hàng hoá nh thế, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của TTCK. Chứng khoán là một loại hàng hoá cao cấp đặc biệt với nhiều loại khác nhau nhưng 7 tất cả đều có những đặc trưng cơ bản đó là : tính sinh lợi, tính rủi ro và tính thanh khoản.
Tính sinh lợi của chứng khoán Tính sinh lợi của chứng khoán là khả năng đem lại thu nhập cho chủ sở hữu chứng khoán. Đối với người đầu tư tính sinh lợi đem lại một khoản thu nhập khi đầu tư vào chứng khoán. Khoản thu nhập này thu được từ : Lợi tức của chứng khoán ( cổ tức hay trái tức) và lợi tức thu từ việc chênh lệch mua bán chứng khoán. Còn đối với những người huy động vốn chính là việc trích một phần trong thu nhập hoạt động SXKD để trả cho người sở hữu vốn khi sử dụng vốn của người này.
Có rất nhiều hình thức đầu tư để sinh lợi nhưng điều mà người đầu tư mong muốn là làm thế nào để cho đồng tiền của mình sinh lời nhiều nhất. Thực tế đã chứng minh đầu tư vào chứng khoán có khả năng đem lại hiệu quả rất cao đạc biệt là đầu tư cổ phiếu. Đầu tư cổ phiếu hơn hẳn hình thức gửi tiết kiệm mà người có vốn nhàn rỗi thường làm. Hai hình thức đầu tư đều có mục đích cuối cùng hưởng một mức sinh lợi nhất định.
Đầu tư vào cổ phiếu thì người giữ cổ phiếu có thể lo lắng về rủi ro, có cảm giác thời gian nhận cổ tức lâu hơn so với giữ tiết kiệm. Xét về mặt chất, thì lãi suất tiết kiệm thường chịu ảnh hưởng trực tiếp và tức thì của lạm phát nhưng với đầu tư cổ phiếu thì yếu tố lạm phát tác động không lớn. Bởi vì người đầu tư mua bán cổ phiếu với mục đích thu lời từ mua bán trong thời gian ngắn, không đợi ảnh hưởng cổ tức nên hầu như loại trừ ảnh hưởng của lạm phát. Mặt khác nếu đầu tư cổ phiếu, trở thành cổ đông của công ty, nhà đầu tư đã trở thành chủ sở hữu một phần nhà, xưởng.
theo tỷ lệ cổ phần nắm giữ. Những tài sản này của công ty nói chung Ýt bị ảnh hưởng của yếu tố lạm phát vì lạm phát theo cách hiểu thông thường là sự tăng giá của hàng hoá đồng nghĩa với mất giá đồng tiền. Tài sản mà công ty đầu tư, đưa vào hoạt động SXKD không nằm dưới dạng 8 tiền mặt nên giá trị không bị mất đi, mà có thể được tăng lên theo mức lạm phát và máy móc, thiết bị. Tính sinh lợi của chứng khoán phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, cao hay thấp phụ thuộc theo hệ số EPS ( thu nhập mỗi cổ phiếu), vì vậy công ty muốn huy động được nguồn đầu tư trên thị trường tài chính phải có EPS cao hơn so với lãi từ tiền gửi ngân hàng hay yếu tố lạm phát.
Còn khi đầu tư trái phiếu thường có lợi tức cao hơn gửi tiết kiệm thông thường. Có thể nói đầu tư vào chứng khoán nhà đầu tư không chỉ nhận được cổ tức từ cổ phiếu, trái tức từ trái phiếu, thu nhập khác từ chứng khoán phái sinh mà còn có thể nhận được thu nhập từ việc mua bán chứng khoán (chênh lệch mua bán). Người đầu tư thường mong muốn thu được nhiều lợi Ých từ phần thu nhập này. Hơn nữa nhà đầu tư sẽ trở thành chủ sở hữu của công ty mà mình muốn bằng cách mua cổ phiếu của công ty đó.
Vì vậy, chính tính sinh lợi của chứng khoán đã kéo người đầu tư đến với chứng khoán, thu hút họ để đầu tư chứng khoán và tạo cho chứng khoán có đặc trưng khác với các loại hàng hoá khác. Tính sinh lợi của chứng khoán là mục đích rất quan trọng của đa số nhà đầu tư. Tính rủi ro của chứng khoán Trong nền kinh tế thị trường, gắn liền với hoạt động đầu tư nhà kinh doanh không chỉ tính toán những lợi Ých có thể thu được mà họ luôn phải chú đến những rủi ro có thể gặp phải trong đầu tư. Vì vậy, khi đầu tư chứng khoán, nhà đầu tư phải biết rằng chứng khoán ngoài tính sinh lợi nó còn có tính rủi ro.
Tính rủi ro của chứng khoán chính là khả năng không thu hồi được vốn khi đầu tư hay đó còn là sự không ổn định, không chắc chắn về thu nhập cho người chủ sở hữu chứng khoán 9 Bởi thế nên khi ra quyết định đầu tư vào chứng khoán hay một hình đầu tư nào khác, đặc tính này được đánh giá song song cùng với tính sinh lợi. Đầu tư vào chứng khoán có thể đem lại cho các nhà đầu tư trở thành tỷ phú trong giây lát nhưng cũng có thể cướp đi của họ tất cả.