Đặt vấn đề Theo mô hình tăng trưởng Tân cổ điển của Solow (1956), tăng trưởng GDP được hình thành từ ba yếu tố: vốn, lao động và năng suất yếu tố tổng hợp (TFP). TFP đo lường sự thay đổi đầu ra trên một đơn vị các đầu vào được kết hợp với nhau bao gồm cả yếu tố nghiên cứu và phát triển, công nghệ mới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, kỹ năng quản lý và các thay đổi trong tổ chức. TFP là chỉ tiêu phản ánh thế chủ động về kinh tế của một tổ chức hay một Quốc gia dựa trên sự đổi mới các quá trình sản xuất và công nghệ, kỹ thuật. TFP ngày càng trở nên quan trọng trong điều kiện phát triển dựa trên đổi mới bằng sự nhấn mạnh vào khả năng sáng tạo, đổi mới và các phương pháp quản lý tiên tiến cũng như các đầu tư mang lại giá trị gia tăng cao.
Đối với các nước phát triển, tỷ trọng đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế là tương đối cao (Solow, 1957), còn trong điều kiện các nước đang phát triển, hầu hết đều trong tiến trình cung cấp lao động và cung cấp vốn cho nền kinh tế, nên đóng góp của vốn và lao động là chủ yếu trong tăng trưởng kinh tế. Nhưng nếu không có những giải pháp khoa học và công nghệ, phương thức quản lý, thì tăng vốn và tăng lao động một cách cơ học khó dẫn đến một nền kinh tế tăng trưởng cao. Trong bài báo về lý thuyết tăng trưởng của Solow (1994) khẳng định tăng vốn và lao động có thể dẫn đến tăng trưởng kinh tế ngắn hạn, phù hợp với giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, còn tăng TFP mới là nguồn gốc tăng trưởng trong dài hạn.Vì vậy, trong điều kiện kinh tế toàn cầu ngày nay, yếu tố TFP ngày càng được coi là nhân tố quan trọng của tăng trưởng kinh tế. Thị trường tài chính trên toàn cầu hiện tại đang rộng mở và tạo nhiều thuận lợi cho các dòng vốn, trong đó có dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lưu chuyển một cách tự do gần như khắp thế giới.
Gorg và Greenaway (2004) cho rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia ngoài việc mang đến nguồn vốn cho nước nhận đầu tư, còn mang đến rất nhiều lợi ích cho quốc gia 1 nhận đầu tư như những quy trình khoa học công nghệ sản xuất mới, giúp nâng cao trình độ quản lý của bộ phận quản lý và tay nghề cũng như trình độ chuyên môn của người lao động ở nước nhận đầu tư. Hiện tại các nước đang phát triển cũng như các nước phát triển đang tích cực thay đổi thể chế và mở cửa để thu hút tối đa dòng vốn quốc tế này, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng quốc tế trên, tính đến năm 2012 Việt Nam ghi nhận nguồn vốn đăng ký xấp xỉ 215 tỉ USD về tổng số từ hơn 14.800 dự án vốn đầu tư nước ngoài. Tổng số vốn thực hiện những dự án này lên tới gần 90 tỉ USD (Cục Đầu Tư Nước Ngoài, 2013).
Ngoại trừ hai điểm đột biến vào các năm 1996 và 2008, đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam đã có xu hướng tăng dần. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu thực nghiện đã chỉ ra rằng dòng vốn FDI đi vào Việt Nam nói riêng và các nước đang phát triển nói chung không đóng góp tích cực vào nguồn gốc tăng trưởng của các nước này (Aitken và Harrison, 1999; Djankov và Hoekman, 2000; Konings, 2001; Binh, 2012). Alfaro và Ozcan (2008) nghiên cứu thực nghiệm trên dữ liệu 72 quốc gia trên thế giới cho rằng chỉ có con đường tăng trưởng thông qua gia tăng năng suất của nhân tố tổng hợp mới giúp quốc gia tăng trưởng bền vững, những quốc gia nhận đầu tư FDI và tăng trưởng thông qua gia tăng nguồn lực vốn và nhân lực thì dẫn tới tăng trưởng không bền vững vì sẽ rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Ở Việt Nam nghiên cứu Nguyễn Thị Tuệ Anh và cộng sự (2005) chỉ ra rằng dòng vốn FDI ở Việt Nam có tác động thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ nhưng chỉ thông qua việc gia tăng lượng vốn trong nền kinh tế chứ không làm gia tăng năng suất lao động và vốn nhân lực thông qua đổi mới công nghệ, hay nói cách khác không giúp gia tăng TFP.
Ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào ở cấp độ ngành đánh giá tác động của dòng vốn FDI đến tăng trưởng TFP. Do đó, mục đích nghiên cứu của tác giả ở đây là xem xét liệu dòng vốn FDI có thật sự tác động đến tăng trưởng TFP ở cấp độ ngành ở Việt Nam trong giai đoạn 2000-2011 hay không. Và nếu có thì đó là tác động tích cực hay tiêu cực. Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu Luận văn có hai mục tiêu nghiên cứu chính, thứ nhất là tính toán tốc độ tăng trưởng TFP của các ngành.
Thứ hai là đánh giá tác động của dòng vốn FDI đến tốc độ tăng trưởng TFP của các ngành ở Việt Nam. Nghiên cứu xem xét, tổng hợp một số mô hình lý thuyết về mối liên hệ giữa FDI và TFP như mô hình tăng trưởng ngoại sinh của Solow (1956), mô hình tăng trưởng nội sinh hay lý thuyết tăng trưởng mới và mô hình cân bằng tổng quát của Ben Ferrett (2004). Nghiên cứu sử dụng số liệu ở cấp độ ngành, bao gồm 16 ngành, trong giai đoạn 2000 - 2011. Dữ liệu tính toán chủ yếu lấy từ Niên giám thống kê hàng năm và trên trang web của tổng cục thống kê.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp hạch toán tăng trưởng của Solow (1956) để tính toán tăng trưởng TFP và sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng để đánh giá tác động của dòng vốn FDI lên tăng trưởng TFP. Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu nhằm kiểm định lại các kết quả của các nghiên cứu trước về mối liên hệ giữa FDI và tăng trưởng TFP. Qua đó đưa ra một số gợi ý chính sách cho việc tiếp nhận dòng vốn FDI vào trong nước. Câu hỏi nghiên cứu Nghiên cứu nhằm trả lời câu hỏi chính: Liệu rằng FDI có tác động đến tăng trưởng TFP của các ngành ở Việt Nam hay không? Để trả lời câu hỏi này, tác giả thực hiện trả lời các câu hỏi phụ sau: 1.
Về mặt lý thuyết, FDI tác động đến tăng trưởng TFP như thế nào? 2. Tính toán tăng trưởng TFP ở cấp độ ngành như thế nào? 3. Liệu dòng vốn FDI có tác động đến tăng trưởng TFP của các ngành trong nước hay không? 1. Cấu trúc luận văn Luận văn gồm 5 chương, tiếp theo sau chương giới thiệu là Chương 2, chương này trình bày cơ sở lý thuyết sử dụng để đánh giá tác động của FDI tới tăng trưởng TFP 3 thông qua mô hình cân bằng tổng quát và kênh tác động lan tỏa.
Trong chương này, cũng đưa ra một vài nghiên cứu liên quan đến nghiên cứu này. Chương 3 sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, bao gồm mô tả số liệu và mô hình phân tích. Phần kết quả và thảo luận về tăng trưởng TFP và tác động của FDI sẽ được trình bày ở Chương 4. Chương 5 sẽ là phần kết luận, kiến nghị và hướng nghiên cứu tiếp theo.
4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong phần này, đầu tiên tác giả sẽ khái quát về TFP và các nhân tố tác động đến TFP. Tiếp theo sẽ trình bày vai trò của FDI và hiệu ứng lan tỏa của nó. Tiếp đến là mô hình lý thuyết cân bằng tổng quát (General Equilibrium) về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng TFP. Cuối cùng là tóm tắt một số nghiên cứu liên quan.
Khái niệm và nhân tố tác động đến TFP TFP hay còn được gọi là phần dư Solow được đưa ra lần đầu tiên bởi Robert Solow trong nghiên cứu về lý thuyết tăng trưởng kinh tế của mình năm 1956. Khái niệm TFP ban đầu được dùng trong phân tích vĩ mô, nhưng sau đó nó cũng được sử dụng rộng rãi trong các phân tích vi mô ở cấp độ ngành hay doanh nghiệp. Theo Solow (1956) hàm sản xuất được viết dưới dạng: Y = A(t)F(K,L) , A(t) chính là TFP. TFP là tỷ số của số lượng tất cả các đầu ra với số lượng tất cả đầu vào.
TFP đo lường quan hệ giữa đầu ra với mức kết hợp hai hay nhiều các đầu vào (thường là lao động và vốn). Goldberg và cộng sự (2005) cho rằng TFP còn thể hiện một phần của đầu ra còn lại không giải thích được sự đóng góp trong các yếu tố đầu vào. Cụ thể, TFP đo lường đóng góp cho đầu ra của nền kinh tế vượt ra ngoài đóng góp bởi số lượng lao động, máy móc và vốn sử dụng. Như vậy, TFP phản ảnh tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ, của giáo dục và đào tạo, qua đó gia tăng đầu ra không chỉ phụ thuộc vào tăng thêm về số lượng của đầu vào mà còn vào cả chất lượng của các yếu tố đầu vào là vốn và lao động.
Tăng TFP gắn liền với áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, đổi mới công nghệ, cải tiến phương thức quản lý và nâng cao kỹ năng, trình độ tay nghề của người lao động. Cùng với lượng đầu vào như nhau, lượng đầu ra có thể lớn hơn nhờ vào việc cải tiến chất lượng của lao động, của vốn và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực này. Điều này là rất quan trọng đối với người lao động, doanh nghiệp và toàn nền kinh tế. Đối với người lao động, nâng cao TFP sẽ góp phần nâng lương, nâng thưởng, điều 5 kiện lao động được cải thiện, công việc ổn định hơn.
Đối với doanh nghiệp thì có khả năng mở rộng tái sản xuất. Còn đối với nền kinh tế sẽ nâng cao sức cạnh tranh trên trường quốc tế, nâng cao phúc lợi xã hội. Do đó, việc tăng TFP ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế khi mà nền kinh tế hiện nay đang chuyển sang hướng phát triển mới.