Mở đầu Luật Đầu tƣ Nƣớc ngoài ra đời năm 1987 đã tạo điều kiện để hội nhập kinh tế thu hút nguồn vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) vào Việt Nam. Gần đây, nhiều hiệp định song phƣơng về khuyến khích và bảo hộ đầu tƣ với 45 nƣớc và vùng lãnh thổ đƣợc ký với phạm vi điều chỉnh mở rộng hơn so với những qui định hiện hành của Luật Đầu tƣ Nƣớc ngoài. Điều này đã đem lại những kết quả đáng khích lệ về thu hút FDI vào Việt Nam. Tính đến thời điểm 31/12/2013, tổng số dự án FDI đƣợc cấp phép là 15.932 dự án với tổng vốn đăng ký đạt 234,121 tỷ USD (Tổng cục Thống kê, năm 2013).
Khu vực có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài là một bộ phận quan trọng đóng góp vào GDP của nền kinh tế. Bên cạnh đó, khu vực có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài còn tạo thêm việc làm, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu và chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nƣớc, đóng góp cho ngân sách Nhà nƣớc. Năng suất lao động là một trong những yếu tố quan trọng tác động tới năng lực cạnh tranh. Tăng năng suất lao động có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của xã hội nói chung và của doanh nghiệp nói riêng.
Theo Viện Năng suất Việt Nam (2014) thì năng suất lao động của toàn xã hội năm 2014 theo giá thực tế đạt đƣợc là 74,3 triệu đồng/lao động, tính theo giá so sánh năm 2010 là 50,84 triệu đồng. Từ năm 2006 đến nay, năng suất lao động hàng năm đều tăng so với năm trƣớc với tỷ lệ bình quân khoảng 3,5%/năm. Vấn đề nghiên cứu đặt ra là khu vực FDI có tác động đến năng suất lao động các doanh nghiệp ở các tỉnh, thành phố có lƣợng vốn đầu tƣ nhiều so với các địa phƣơng khác hay không? Có phải chăng, sự tác động của khu vực FDI lên năng suất lao động nói chung có sự khác biệt giữa các tỉnh, thành phố tập trung nhiều vốn đầu tƣ nƣớc ngoài với các vùng còn lại. Hiện nay, Việt Nam có 340.594 doanh nghiệp thuộc các hình thức sở hữu khác nhau hoạt động trong tất cả các ngành sản xuất (VES, Tổng Cục Thống kê, 2014).
Về phân bổ theo không gian, có 206.561 doanh nghiệp có trụ sở tại các thành phố lớn nhƣ Hà Nội, Bắc Ninh, Hƣng Yên; Đà Nẵng, Quảng Nam; 1 thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dƣơng, Bà Rịa – Vũng Tàu chiếm 60,65% và 134.033 doanh nghiệp có trụ sở tại các tỉnh thành còn lại trong cả nƣớc chiếm 39,35%. Do đó, nghiên cứu này nhằm đánh giá tác động của nguồn vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài ảnh hƣởng khác nhau nhƣ thế nào đến năng suất lao động giữa các vùng trong cả nƣớc. Nghiên cứu này không phân tích tác động của FDI đến doanh nghiệp trong tất cả các ngành mà chỉ tập trung đánh giá tác động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Đây là một trong những ngành thu hút nhiều FDI trong thời gian qua.
Giai đoạn hiện nay, Việt Nam chƣa thật sự phát triển các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) nên chƣa thể phát triển các ngành có hàm lƣợng công nghệ cao. Do vậy, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo phát triển trong thời gian qua đóng góp lớn vào tăng trƣởng kinh tế. Đến thời điểm 31/12/2013, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 8.725 dự án đƣợc cấp phép với tổng vốn đăng ký là 125.858,1 triệu USD chiếm 54,76% về số dự án và 53,76% về vốn của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào Việt Nam (Tổng cục Thống kê, 10/9/2014). Xét về năng suất lao động thì ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có năng suất lao động khoảng 67 triệu đồng/lao động (Viện Năng suất Việt Nam, 2014).
Vì vậy, luận văn chọn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là đối tƣợng nghiên cứu. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn phân tích doanh nghiệp trong ngành công nghệp chế biến, chế tạo tại ba địa phƣơng là thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng và một số tỉnh, thành phố xung quanh ba trung tâm kinh tế lớn này. Tổng số doanh nghiệp trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là 59.206 doanh nghiệp đặt trụ sở các các tỉnh, thành phố lớn chiếm 66,3% và các tỉnh, thành phố khác là 19.919 doanh nghiệp chiếm 33,7%. Mặt khác, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đƣợc lựa chọn vì nghiên cứu này muốn xem xét ba loại công nghệ khác nhau đại diện cho ngành: công nghệ sử dụng nhiều nguyên liệu địa phƣơng, công nghệ sử dụng nhiều lao động và công nghệ sử dụng nhiều vốn.
Đó là lý do mà tác giả chọn đề tài “Phân tích tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI) đến năng suất lao động của doanh nghiệp trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo” để nghiên cứu.2 Câu hỏi nghiên cứu 2 - Tác động của FDI đến năng suất lao động ở Việt Nam là tích cực hay tiêu cực? Tác động đó có phụ thuộc vào khoảng cách về vốn, quy mô và chất lƣợng lao động giữa các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nƣớc hay không? - Tác động của FDI đến năng suất lao động ở Việt Nam có khác nhau ở những tỉnh thành phố tập trung vốn đầu tƣ cao và các tỉnh thành còn lại? - Tác động của FDI đến năng suất lao động ở Việt Nam giữa các doanh nghiệp FDI có hình thức sở hữu khác nhau thì có khác nhau hay không? 1.3 Mục tiêu nghiên cứu - Phân tích tác động của FDI đến năng suất lao động của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam; xác định ảnh hƣởng của khoảng cách vốn, quy mô và chất lƣợng lao động đến năng suất lao động giữa các doanh nghiệp. - Kiểm chứng sự tác động của FDI đến năng suất lao động doanh nghiệp ở những tỉnh, thành phố tập trung vốn FDI cao và các tỉnh, thành phố còn lại. - Đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp FDI để lựa chọn hình thức sở hữu phù hợp đối với các doanh nghiệp trong ngành.4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu: năng suất lao động, khoảng cách vốn, quy mô, chất lƣợng lao động và tác động của FDI đến các doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu điều tra doanh nghiệp Việt Nam (VES) đƣợc thực hiện bởi Tổng cục Thống kê vào năm 2014.
Cuộc điều tra thu thập dữ liệu của tất cả các doanh nghiệp đang hoạt động trong cả nƣớc thuộc các hình thức khác nhau và trong tất cả các ngành sản xuất. Tuy nhiên, nghiên cứu của tập trung vào dữ liệu các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu tác động của nguồn vốn FDI đến năng suất lao động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Không gian nghiên cứu: các doanh nghiệp hoạt động sản xuất trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam.5 Phƣơng pháp nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng phƣơng pháp định lƣợng gồm thống kê mô tả và phân tích hồi quy.
Xây dựng mô hình kinh tế kinh tế lƣợng xác định tác động của nguồn vốn đầu 3 tƣ trực tiếp ảnh hƣởng đến năng suất lao động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Đánh giá tác động của FDI đến năng suất lao động của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và ảnh hƣởng giữa các vùng tập trung nhiều vốn FDI so với các vùng còn lại của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; giữa các hình thức sở hữu của doanh nghiệp FDI. Từ đó, đƣa ra một số khuyến nghị để thu hút FDI đóng góp vào tăng trƣởng nền kinh tế đồng thời cải thiện năng suất lao động của doanh nghiệp trong nƣớc.7 Kết cấu của đề tài Đề tài gồm 5 chƣơng - Chƣơng 1: Giới thiệu Nêu vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu của đề tài, đối tƣợng nghiên cứu của đề tài, phƣơng pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài. - Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết Trình bày các khái niệm, lý thuyết kinh tế, lý thuyết về tác động lan tỏa của FDI lên năng suất lao động và tóm tắt các nghiên cứu trƣớc. - Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng này xây dựng mô hình nghiên cứu định lƣợng dựa trên cơ sở lý thuyết đã trình bày và một số nghiên cứu trƣớc để xác định tác động của FDI lên năng suất lao động và ảnh hƣởng tác động này giữa các vùng tập trung vốn nhiều so với các vùng còn lại; giữa các loại hình doanh nghiệp FDI.
- Chƣơng 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Phân tích kết quả nghiên cứu bằng phần mềm SPSS dựa trên các số liệu đã xử lý, phân tích thống kê mô tả dữ liệu, phân tích hồi quy mô hình xác định các biến có ý nghĩa thống kê và ảnh hƣởng của từng biến đến năng suất lao động. Đồng thời, thực hiện các kiểm định cần thiết nhằm đảm bảo mức độ phù hợp của mô hình nghiên cứu. - Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị 4 Kết luận kết quả đạt đƣợc từ phân tích đồng thời đề xuất một số khuyến nghị để thu hút FDI đóng góp vào tăng năng suất lao động của doanh nghiệp trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Chƣơng này cũng trình bày một số giới hạn của đề tài và gợi ý cho các nghiên cứu tiếp theo.
5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chƣơng này trình bày lý thuyết về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài và năng suất lao động, bao gồm: những vấn đề cơ bản liên quan đến FDI và năng suất lao động nhƣ khái niệm, hình thức, thực trạng FDI tại Việt Nam, tác động của FDI; cách tính năng suất lao động. Đồng thời, trình bày khung lý thuyết và một số nghiên cứu trƣớc về tác động của FDI đến năng suất lao động của doanh nghiệp. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) 2. Khái niệm Theo OECD (1996), FDI là hoạt động đầu tƣ đƣợc thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp, đặc biệt là những khoản đầu tƣ mang lại khả năng tạo ảnh hƣởng đối với việc quản lý doanh nghiệp bằng cách thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tƣ, mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có, tham gia vào một doanh nghiệp mới, cấp tín dụng dài hạn (trên 5 năm).
Quyền kiểm soát: nắm giữ từ 10% cổ phiếu thƣờng hoặc quyền biểu quyết trở lên.