CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ FDI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Tăng trưởng kinh tế trong mỗi thời kỳ được thể hiện bởi một hệ thống đặc trưng phù hợp với nội dung, mục tiêu của các quốc gia. Để đạt được các chỉ tiêu tăng trưởng trong các chiến lược phát triển kinh tế, các quốc gia luôn luôn tìm cách khai thác và tổ chức các nguồn lực hiệu quả nhất. Trong giới hạn của mục tiêu nghiên cứu của luận án, chương này thực hiện tổng quan các lý thuyết về tăng trưởng, từ đó thấy được các nhân tố ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế theo các quan điểm kinh tế khác nhau. Đồng thời các vấn đề về lý luận chung cũng như các lý thuyết kinh tế về FDI cũng được tổng quan.
Lý luận chung về tăng trưởng kinh tế 1. Khái niệm về tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế được xem là một trong những vấn đề trọng yếu nhất trong nghiên cứu kinh tế phát triển. Hầu hết các nhà kinh tế đều thống nhất với nhau rằng tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập hay sản lượng được tính cho toàn bộ nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Sự gia tăng được thể hiện ở quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ.
Thu nhập của nền kinh tế có thể biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị. Thu nhập bằng giá trị phản ánh qua các chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng thu nhập quốc dân (GNI) và được tính cho toàn thể nền kinh tế hoặc tính bình quân trên đầu người [18]. Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về chất lượng tăng trưởng kinh tế. Theo nghĩa hẹp thì chất lượng tăng trưởng có thể hiểu trong giới hạn ở một khía cạnh đó là: hiệu quả của đầu tư, đánh giá qua chỉ tiêu hệ số ICOR, hoặc coi tương đương với khái niệm năng suất nhân tố tổng hợp, đánh giá chỉ tiêu TFP.
Theo nghĩa rộng thì chất lượng tăng trưởng có thể tiến tới nội hàm của quan điểm về phát triển bền vững, chú trọng tới tất cả ba thành tố: kinh tế, xã hội và môi trường. 9 Mối quan hệ giữa phát triển và phát triển bền vững, tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng là mối quan hệ tương hỗ, bổ sung cho nhau, trong đó vẫn đảm bảo nguyên tắc tăng trưởng kinh tế là một yếu tố quan trọng của phát triển. Tăng trưởng về lượng nhưng không được duy trì ổn định và không đi đôi với cải thiện về phúc lợi thì mục tiêu phát triển cũng không đạt được. Như vậy, khi nghiên cứu quá trình tăng trưởng, cần phải xem xét một cách đầy đủ hai mặt của hiện tượng tăng trưởng kinh tế là số lượng và chất lượng của tăng trưởng.
Một số quan điểm về tăng trưởng kinh tế 1. Quan điểm cổ điển về tăng trưởng kinh tế Giai đoạn thế kỷ XVII trở về trước, Thomas Robert Malthus đã giải thích rằng khi cung lương thực, thực phẩm tăng lên thì dân số cũng tăng lên, thậm chí với tốc độ còn nhanh hơn [6]. Nhưng đến thế kỷ XVIII, khi mà cả hai nền kinh tế Anh và Hà Lan đã thành công trong việc nâng cao thu nhập bình quân, dưới áp lực của tăng dân số và quy luật lợi tức giảm dần trong nông nghiệp, của cải được tạo ra nhanh hơn tốc độ tăng dân số. Mô hình Thomas Robert Malthus không còn phù hợp.
Lý thuyết cổ điển về tăng trưởng kinh tế do các nhà kinh tế học cổ điển nêu ra mà các đại diện tiêu biểu là Adam Smith và David Ricardo được coi là sự kế thừa có phát triển mô hình Malthus. Adam Smith (1723-1790) được coi là người sáng lập ra khoa kinh tế học và là người đầu tiên nghiên cứu lý luận tăng trưởng kinh tế một cách có hệ thống. Trong tác phẩm “ Của cải của các quốc gia”, ông đã nghiên cứu về tính chất, nguyên nhân tăng trưởng kinh tế và làm thế nào để thúc đẩy cho kinh tế tăng trưởng thông qua các học thuyết về “Giá trị lao động”, học thuyết về “Bàn tay vô hình” và lý thuyết về phân phối thu nhập theo nguyên tắc “Ai có gì được nấy”. Theo Adam Smith, chính lao động được sử dụng trong những công việc có ích và hiệu quả là nguồn gốc tạo ra giá trị cho xã hội và coi sự gia tăng tư bản là yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế.
Các kết luận của Adam Smith được các nhà kinh tế học chấp nhận cho đến thế kỷ XX, khi mà sự phát triển lý luận kinh tế đã làm 10 thay đổi quan niệm truyền thống và đưa các nhà kinh tế học đến chỗ ủng hộ kế hoạch hoá tập trung và sự kiểm soát của Chính phủ, coi đó là cách tốt hơn để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đặc biệt ở những nước đang phát triển [8]. Nếu Adam Smith được coi là người sáng lập ra khoa kinh tế học thì David Ricardo (1772 – 1823) được coi là tác giả cổ điển xuất sắc nhất. David Ricardo kế thừa các tư tưởng của Adam Smith và chịu ảnh hưởng tư tưởng về dân số học của Thomas Robert Malthus. Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của David Ricardo nhấn mạnh: Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng nhất, các yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế là đất đai, lao động và vốn, trong từng ngành và phù hợp với một trình độ kỹ thuật nhất định.
Các yếu tố này kết hợp với nhau theo một tỷ lệ cố định, không thay đổi. David Ricardo cho rằng trong nông nghiệp, năng suất cận biên của đất đai, tư bản, lao động đều giảm dần và bất cứ biện pháp nào có thể thúc đẩy việc nâng cao năng suất cận biên đều làm tăng lợi nhuận, từ đó làm tăng tỷ lệ hình thành tư bản, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy xuất phát từ góc độ phân phối thu nhập để nghiên cứu tăng trưởng kinh tế nhưng David Ricardo vẫn đặc biệt nhấn mạnh tích lũy tư bản là nhân tố chủ yếu quyết định sự tăng trưởng kinh tế còn các chính sách của Chính phủ không có tác động quan trọng tới hoạt động của nền kinh tế. Quan điểm của Karl.Marx về tăng trưởng kinh tế Theo Karl Marx [65] các yếu tố tác động đến quá trình tái sản xuất là đất đai, lao động, vốn và tiến bộ kỹ thuật.
Karl Marx đặc biệt quan tâm đến vai trò của lao động trong việc tạo ra giá trị thặng dư. Sức lao động đối với nhà tư bản là một loại hàng hoá đặc biệt, giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động không giống như giá trị sử dụng của các loại hàng hoá khác, vì nó có thể tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó, giá trị đó bằng giá trị sức lao động cộng với giá trị thặng dư. Karl Marx cho rằng do các nhà tư bản cần nhiều vốn hơn để khai thác tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất lao động của công nhân nên các nhà tư bản phải chia giá trị thặng dư thành hai phần: một phần để tiêu dùng cho nhà tư bản, một phần để tích luỹ phát triển sản xuất và đây chính là nguồn gốc tích lũy của chủ nghĩa tư bản. 11 Karl Marx đã bác bỏ ý kiến về “cung tạo nên cầu”, nhận định rằng khủng hoảng kinh tế là một giải pháp nhằm khôi phục lại thế thăng bằng đã bị rối loạn và các chính sách kinh tế của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng, đặc biệt là chính sách khuyến khích nâng cao mức cầu hiện có.
Quan điểm tân cổ điển về tăng trưởng kinh tế Cuối thế kỷ XIX là thời kỳ đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật. Hàng loạt các phát minh khoa học ra đời, cùng với nó nhiều nguồn tài nguyên quý được đưa vào khai thác làm cho nền kinh tế thế giới có bước phát triển mạnh mẽ. Sự chuyển biến này có ảnh hưởng mạnh đến các nhà kinh tế, hình thành một trường phái kinh tế mới mà ngày nay ta gọi là trường phái tân cổ điển, đứng đầu là Alfred Marshall (1842 - 1924), tác phẩm chính của ông là “Các nguyên lý của kinh tế học”, xuất bản năm 1890, đánh dấu sự ra đời của trường phái tân cổ điển. Các nhà kinh tế tân cổ điển bác bỏ quan điểm cổ điển cho rằng sản xuất trong một tình trạng nhất định đòi hỏi những tỷ lệ nhất định về lao động và vốn, họ cho rằng vốn và lao động có thể thay thế cho nhau và trong quá trình sản xuất có thể có nhiều cách kết hợp giữa các yếu tố đầu vào.
Đồng thời họ cho rằng tiến bộ khoa học kỹ thuật là yếu tố cơ bản để thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Do đó cần chú trọng đến các nhân tố đầu vào của sản xuất. Lý thuyết tân cổ điển còn được gọi là lý thuyết trọng cung. Quan điểm hiện đại về tăng trưởng kinh tế Các nhà kinh tế học hiện đại ủng hộ việc xây dựng một nền kinh tế hỗn hợp, trong đó thị trường trực tiếp xác định những vấn đề cơ bản của hoạt động kinh tế, Nhà nước tham gia điều tiết có mức độ nhằm hạn chế những mặt trái của thị trường.
Thực chất nền kinh tế hỗn hợp là sự kết hợp học thuyết kinh tế tân cổ điển và học thuyết kinh tế của Keynes trong điều tiết kinh tế. Những ý tưởng cơ bản của học thuyết này được trình bày trong tác phẩm ‘Kinh tế học” của P.Samuelson xuất bản năm 1948. Kinh tế học hiện đại quan niệm về sự cân bằng kinh tế theo mô hình của Keynes, nghĩa là sự cân bằng của nền kinh tế thường dưới mức tiềm năng, trong điều kiện hoạt động bình thường của nền kinh tế vẫn có lạm phát và thất nghiệp. 12 Nhà nước cần xác định tỷ lệ thất nghiệp và mức lạm phát có thể chấp nhận được.
Sự cân bằng này của nền kinh tế được xác định tại giao điểm của đường tổng cung và đường tổng cầu. Về phía cung: lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại thống nhất với cách xác định của mô hình kinh tế tân cổ điển về các yếu tố tác động đến sản xuất.