Chương 1 trình bày lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, đóng góp của nghiên cứu, cuối cùng là kết cấu luận văn. Chương 2 trình bày tổng quan về cơ sở lý thuyết nền tảng của nghiên cứu và các cơ sở nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế để từ đó củng cố lại kiến thức và hình thành nên mô hình nghiên cứu trong chương 3. Chương 3 trình bày cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu, quy trình thực hiện nghiên cứu, mô tả biến nghiên cứu, cơ sở dữ liệu nghiên cứu, giả thiết nghiên cứu và cơ sở lý thuyết kinh tế lượng mô hình VECM áp dụng trong nghiên cứu. Chương 4 tiến hành kiểm định các giả thiết nghiên cứu thông qua các kiểm định kinh tế lượng và phân tích kết quả nghiên cứu sau khi chạy mô hình trên ứng dụng EVIEWS 9.
Chương 5 dựa vào kết quả nghiên cứu, đánh giá vai trò của FDI đến tăng trưởng kinh tế và đưa ra kết luận và những kiến nghị chính sách phù hợp cho Việt Nam trong bối cảnh hội nhập. Trang 7 CHƢƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT Nội dung chương 2 sẽ trình bày tổng quan về cơ sở lý thuyết nền tảng để xây dựng nên mô hình nghiên cứu. Chương 2 gồm có các phần sau: Cơ sở lý thuyết liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài Cơ sở lý thuyết liên quan đến tăng trưởng kinh tế Các nghiên cứu thực nghiệm trước về mối quan hệ giữa vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế.1 Đầu tƣ quốc tế Mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia được biểu hiện cụ thể qua việc di chuyển nguồn lực giữa các quốc gia thông qua trao đổi kinh tế, hướng tới cân đối cung cầu các nguồn lực này trong nền kinh tế thế giới. Các nguồn lực trong nền kinh tế thế giới tồn tại dưới dạng hàng hóa, dịch vụ, vốn, sức lao động, khoa học công nghệ.
Quá trình trao đổi quốc tế các nguồn lực, tạo nên sự phụ thuộc về kinh tế giữa các quốc gia và sự ràng buộc về lợi ích giữa các chủ thể kinh tế. Đầu tư quốc tế là một hình thức di chuyển về vốn, trong đó vốn được di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác để thực hiện một hoặc một số dự án đầu tư nhằm đem lại lại ích cho các bên tham gia. Vốn đầu tư quốc tế có hai dòng chính: (i) đầu tư của tư nhân và (ii) hỗ trợ phát triển chính thức của các chính phủ, các tổ chức quốc tế. Đầu tư của tư nhận được thực hiện dưới ba hình thức: (i) Đầu tư trực tiếp nước ngoài; (ii) Đầu tư gián tiếp; (iii) Tín dụng thương mại (Nguồn: Wikipedia).2 Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Hiện tại có rất nhiều định nghĩa về FDI, trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến FDI, tác giả trình bày một số khái niệm về FDI như sau: FDI là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư nước ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ, cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ tự bỏ vốn đầu tư (Trịnh Thị Xuân Vân, 2012).
Trang 8 Theo Ngân hàng thế giới (2005), FDI được định nghĩa là dòng vốn đầu tư bởi doanh nghiệp nước ngoài trong nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư có được sự quản lý lâu dài. Theo báo cáo của Hiệp hội đầu tư thế giới năm 2015 (UNCTAD, 2015), FDI được định nghĩa là một khoản đầu tư liên quan đến một mối quan hệ lâu dài và phản ánh mối quan tâm lâu dài và kiểm soát bởi một thực thể thường trú trong một nền kinh tế (chủ đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc công ty mẹ) trong một cư dân doanh nghiệp trong một nền kinh tế nào khác hơn là các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI doanh nghiệp hoặc chi nhánh doanh nghiệp hoặc chi nhánh nước ngoài). FDI ngụ ý rằng các nhà đầu tư tạo nên một mức độ ảnh hưởng đáng kể đến việc quản lý của các doanh nghiệp thường trú tại các nền kinh tế khác. Đầu tư này bao gồm cả các giao dịch ban đầu giữa hai thực thể và tất cả các giao dịch sau này giữa họ và các chi nhánh nước ngoài, cả hai kết hợp và tách rời nhau.
FDI có thể được thực hiện bởi các cá nhân cũng như các tổ chức kinh doanh. Sự quan tâm lâu dài ngụ ý sự tồn tại của một mối quan hệ lâu dài giữa các nhà đầu tư trực tiếp và các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp và một mức độ đáng kể ảnh hưởng đến việc quản lý của doanh nghiệp. Các quyền sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp của 10% hoặc nhiều hơn các quyền biểu quyết của một cư dân doanh nghiệp trong một nền kinh tế của một cư dân đầu tư trong nền kinh tế khác là bằng chứng về mối liên hệ đó (OECD, 2008 ). Dòng chảy của FDI bao gồm vốn được cung cấp (hoặc trực tiếp hoặc thông qua các doanh nghiệp khác có liên quan) của nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài cho doanh nghiệp FDI, hoặc vốn thu được từ một doanh nghiệp FDI do nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài.
FDI có ba thành phần: Vốn chủ sở hữu là của nhà đầu tư trực tiếp của nước ngoài mua cổ phần của một doanh nghiệp trong một quốc gia khác hơn là của riêng của nó. Thu nhập tái đầu tư bao gồm cổ phần của nhà đầu tư trực tiếp của (theo tỷ lệ tham gia cổ phần trực tiếp) của các khoản thu nhập không được phân phối cổ tức của các chi nhánh, hoặc các khoản thu nhập không phải nộp cho chủ đầu tư trực tiếp. Lợi nhuận được giữ lại bởi các chi nhánh được tái đầu tư. Trang 9 Các khoản vay trong nội bộ công ty hoặc giao dịch nợ nội bộ công ty trong ngắn hạn hay dài hạn và cho vay vốn giữa các nhà đầu tư trực tiếp (doanh nghiệp mẹ) và các doanh nghiệp liên kết.
FDI là một hoạt động đầu tư nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp (IMF, 1997, trích bởi Nguyễn Hồng Chung, 2012). Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư trong đó người chủ đầu tư có quyền kiểm soát đối với hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như lợi ích của mình ở một hãng nước ngoài. Do vậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm quyền sỡ hữu và kiểm soát kinh doanh ở nước ngoài (Nguyễn Như Bình, 2004). Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (2000), đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này.
Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005, Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư (Khoản 2, điều 3); Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam (Khoản 5, Điều 3) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại (Khoản 6, Điều 3). Có rất nhiều định nghĩa về FDI, nhưng chung quy lại FDI là một hình thức đầu tư quốc tế, trong đó nhà đầu tư nước ngoài đóng góp một số vốn nhất định (theo quy định của nước tiếp nhận đầu tư) vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh hoặc dịch vụ, cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ tự bỏ vốn đầu tư.3 Một số lý thuyết liên quan đến đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 2.1 Lý thuyết về lợi nhuận cận biên Năm 1960, Mac. Dougall đã đề xuất một mô hình lý thuyết, phát triển từ những lý thuyết chuẩn của Hescher Ohlin - Samuaelson về sự vận động vốn. Ông Trang 10 cho rằng luồng vốn đầu tư sẽ chuyển từ nước lãi suất thấp sang nước có lãi suất cao cho đến khi đạt được trạng thái cân bằng (lãi suất hai nước bằng nhau).
Sau đầu tư, cả hai nước trên đều thu được lợi nhuận và làm cho sản lượng chung của thế giới tăng lên so với trước khi đầu tư. Lý thuyết này được các nhà kinh tế thừa nhận những năm 1950 dường như phù hợp với các lý thuyết trước. Mô hình trên không giải thích được hiện tượng vì sao một số nước đồng thời có dòng vốn chảy vào, có dòng vốn chảy ra, không đưa ra được sự giải thích đầy đủ về FDI. Do vậy, lý thuyết lợi nhuận cận biên chỉ có thể được coi là bước khởi đầu hữu hiệu để nghiên cứu FDI.2 Lý thuyết chu kỳ sản phẩm Lý thuyết chu kỳ sản phẩm do nhà kinh tế học Vernon đề xuất vào năm 1966.
Theo lý thuyết này thì bất kỳ một công nghệ sản phẩm mới nào đều tiến triển theo 3 giai đoạn: (1) Giai đoạn phát minh và giới thiệu; (2) Giai đoạn phát triển qui trình và đi tới chín muồi; (3) Giai đoạn chín muồi hay được tiêu chuẩn hoá. Trong mỗi giai đoạn này các nền kinh tế khác nhau có lợi thế so sánh trong việc sản xuất những thành phần khác nhau của sản phẩm. Quá trình phát triển kinh tế, nó được chuyển dịch từ nền kinh tế này sang nền kinh tế khác. Theo Akamatsu Kaname (1962), sản phẩm mới ban đầu ở nước đầu tư, sau đó được xuất khẩu sang thị trường nước ngoài.
Tại nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới làm nhu cầu trên thị trường bản địa tăng lên, nước nhập khẩu chuyển sang thay thế sản phẩm nhập khẩu này bằng bằng cách dựa vào vốn, kỹ thuật của nước ngoài (giai đoạn sản phẩm chín muồi). Khi nhu cầu thị trường sản phẩm mới trên thị trường trong nước bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện (giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa). Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ và do đó dẫn đến sự hình thành FDI.