CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH, CHIẾN LƯỢC KINH DOANH VÀ ĐẦU TƯ CẦU CẢNG, THIẾT BỊ, KHO BÃI CỦA CẢNG BIỂN 1. Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của Cảng biển 1. Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh [1, 22]. Theo Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD): “Cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế ”.
Theo Diễn đàn kinh tế thế giới: “Năng lực cạnh tranh là tập thể các thể chế, chính sách và các yếu tố tác động đến năng suất quốc gia – nhân tố đảm bảo thu nhập hay sự bền vững quốc gia là nhân tố cơ bản xác định tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế”. Năng lực cạnh tranh được đánh giá thông qua 3 cấp bậc là cấp quốc gia, cấp doanh nghiệp và cấp sản phẩm. Năng lực cạnh trạnh của một quốc gia được đánh giá bởi các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh, luật pháp… của quốc gia đó. Trong khi đó, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đánh giá bởi doanh số bán hàng, doanh thu , lợi nhuận… Còn năng lực cạnh tranh của sản phẩm lại được quyết định bởi chất lượng của sản phẩm, giá cả và những tiện ích mà sản phẩm đó mang lại cho người tiêu dùng.
Năng lực cạnh tranh ở các cấp bậc này không tách rời nhau mà tác động chặt chẽ và qua lại với nhau. Ở đây, với đề tài nghiên cứu này chúng ta quan tâm nhiều đến năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp. Vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là gì? Theo tìm hiểu lý thuyết, khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đến nay vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất còn nhiều quan điểm khác nhau. Dưới đây là một số cách tiếp cận cụ thể về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đáng chú ý: Một là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp.
Đây là cách quan niệm khá phổ biến hiện nay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với đối thủ và khả năng “thu lợi” của các doanh nghiệp. Cách quan niệm này có thể gặp trong các công trình nghiên cứu của Mehra (1998), Ramasamy (1995), Buckley Nguyễn Hữu Tằng, CH 2010 - 2012 4 Luận văn cao học QTKD Viện KTQL - ĐHBKHN (1991), Schealbach (1989) hay ở trong nước như của CIEM (Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương). Cách quan niệm như vậy tương đồng với cách tiếp cận thương mại truyền thống đã nêu trên. Hạn chế trong cách quan niệm này là chưa bao hàm các phương thức, chưa phản ánh một cách bao quát năng lực kinh doanh của doanh nghiệp.
Hai là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịu trước sự tấn công của doanh nghiệp khác. Chẳng hạn, Hội đồng Chính sách năng lực của Mỹ đưa ra định nghĩa: năng lực cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hóa và dịch vụ trên thị trường thế giới. Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) cho rằng: năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp “không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế”. Quan niệm về năng lực cạnh tranh như vậy mang tính chất định tính, khó có thể định lượng.
Ba là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. Porter (1980), năng suất lao động là thức đo duy nhất về năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, các quan niệm này chưa gắn với việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp [2, 180].
Bốn là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh. Chẳng hạn, tác giả Vũ Trọng Lâm cho rằng: năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, tác giả Trần Sửu cũng có ý kiến tương tự: năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững. Ngoài ra, không ít ý kiến đồng nhất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với năng lực kinh doanh. Như vậy, cho đến nay quan niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vẫn chưa được hiểu thống nhất.
Để có thể đưa ra quan niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phù hợp, cần lưu ý thêm một số vấn đề sau đây: Nguyễn Hữu Tằng, CH 2010 - 2012 5 Luận văn cao học QTKD Viện KTQL - ĐHBKHN Một là, quan niệm năng lực cạnh tranh cần phù hợp với điều kiện, bối cảnh và trình độ phát triển trong từng thời kỳ. Chẳng hạn, trong nền kinh tế thị trường tự do trước đây, cạnh tranh chủ yếu trong lĩnh vực bán hàng và năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với việc bán được nhiều hàng hóa hơn đối thủ cạnh tranh; trong điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh trên cơ sở tối đa háo số lượng hàng hóa nên năng lực cạnh tranh thể hiện ở thị phần; còn trong điều kiện kinh tế tri thức hiện nay, cạnh tranh đồng nghĩa với mở rộng “không gian sinh tồn”, doanh nghiệp phải cạnh tranh không gian, cạnh tranh thị trường, cạnh tranh tư bản và do vậy quan niệm về năng lực cạnh tranh cũng phải phù hợp với điều kiện mới. Hai là, năng lực cạnh tranh cần thể hiện khả năng tranh đua, tranh giành về các doanh nghiệp không chỉ về năng lực thu hút và sử dụng các yếu tố sản xuất, khả năng tiêu thụ hàng hóa mà cả khả năng mở rộng không gian sinh tồn của sản phẩm, khả năng sáng tạo sản phẩm mới. Ba là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần thể hiện được phương thức cạnh tranh phù hợp, bao gồm cả những phương thức truyền thống và cả những phương thức hiện đại – không chỉ dựa trên lợi thế so sánh mà dựa vào lợi thế cạnh tranh, dựa vào quy chế.
Từ những yêu cầu trên, có thể đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như sau: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững. Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh cảng biển a) Khái niệm về cảng biển và năng lực cạnh tranh của cảng biển [3, 262] Cảng biển là khu vực bao gồm vùng đất cảng và vùng nước cảng, được xây dựng kết cấu hạ tầng và lắp đặt trang thiết bị cho tàu biển ra, vào hoạt động để bốc dỡ hàng hoá, đón trả hành khách và thực hiện các dịch vụ khác. Vùng đất cảng là vùng đất được giới hạn để xây dựng cầu cảng, kho, bãi, nhà xưởng, trụ sở, cơ sở dịch vụ, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, điện, nước, các công trình phụ trợ khác và lắp đặt trang thiết bị. Vùng nước cảng là vùng nước được Nguyễn Hữu Tằng, CH 2010 - 2012 6 Luận văn cao học QTKD Viện KTQL - ĐHBKHN giới hạn để thiết lập vùng nước trước cầu cảng, vùng quay trở tàu, khu neo đậu, khu chuyển tải, khu tránh bão, vùng đón trả hoa tiêu, vùng kiểm dịch; vùng để xây dựng luồng cảng biển và các công trình phụ trợ khác.
Cảng biển có một hoặc nhiều bến cảng. Bến cảng có một hoặc nhiều cầu cảng. Bến cảng bao gồm cầu cảng, kho, bãi, nhà xưởng, trụ sở, cơ sở dịch vụ, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, điện, nước, luồng vào bến cảng và các công trình phụ trợ khác. Cầu cảng là kết cấu cố định thuộc bến cảng, được sử dụng cho tàu biển neo đậu, bốc dỡ hàng hoá, đón, trả hành khách và thực hiện các dịch vụ khác.
Tuy nhiên, cũng có thể đưa ra khái niệm về cảng biển một cách ngắn gọn như sau: “Cảng biển là nơi ra vào, neo đậu, là nơi phục vụ tàu bè và hàng hóa, là đầu mối giao thông quan trọng của một quốc gia”. “Năng lực cạnh tranh của cảng biển là khả năng thu hút các khách hàng thực hiện các dịch vụ cảng của mình”. Điều này phải dựa trên các yếu tố như: cơ sở vật chất của cảng biển có hiện đại hơn những cảng biển khác trong khu vực hay không? Cảng biển có khả năng cung cấp đầy đủ các dịch vụ cho khách hàng không? Thậm chí vị trí của cảng cũng có ý nghĩa quan trọng, một cảng nước sâu bao giờ cũng có lợi thế hơn một cảng biển nước nông. Ngoài ra, còn phải kể đến yếu tố giá dịch vụ cảng.
Khi hai sản phẩm dịch vụ cảng giống nhau, là người tiêu dùng, khách hàng thường chọn sản phẩm dịch vụ cảng nào có giá rẻ hơn. Bên cạnh đó, việc tạo được lòng tin hay xây dựng cho riêng mình một thương hiệu cũng là một yếu tố quyết định sự thành bại của cảng biển. Năng lực cạnh tranh của cảng biển được xem xét trên 3 cấp độ: năng lực cạnh tranh của cả hệ thống cảng biển của một quốc gia, năng lực cạnh tranh của một cảng biển cụ thể và năng lực cạnh tranh của dịch vụ cảng cung cấp. Với nội dung của Luận văn này, tác giả chỉ xem xét tới năng lực cạnh tranh của một cảng biển cụ thể, nó thể hiện ở quy mô của cảng, trình độ công nghệ áp dụng, khối lượng hàng hóa lưu chuyển qua cảng trong một năm… và tiềm năng mở rộng khai thác cảng trong tương lai.
b) Các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của Cảng biển [4, 139] - Điều kiện tự nhiên Nguyễn Hữu Tằng, CH 2010 - 2012 7 Luận văn cao học QTKD Viện KTQL - ĐHBKHN Một đất nước muốn phát triển cảng biển thì phải được thiên nhiên ưu đãi, phải có một bờ biển dài có thể cho tàu cập bến. Các thành phố xung quanh cảng biển đều là những thanh phố giàu có, là nơi giao lưu buôn bán phát triển của nhiều ngành sản xuất và dịch vụ.