CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm vốn lưu động Vốn lưu động là những khoản đầu tư của doanh nghiệp vào tài sản ngắn hạn như tiền mặt, chứng khoán khả nhượng, các khoản phải thu, hàng tồn kho và những tài sản lưu động khác có khả năng chuyển đổi thành tiền trong vòng một năm.2 Kết cấu của vốn lưu động Ở mỗi doanh nghiệp khác nhau có kết cấu vốn lưu động cũng khác nhau. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thể hiện một phần vào kết cấu vốn lưu động. Việc nghiên cứu kết cấu vốn lưu động sẽ giúp cho doanh nghiệp thấy được tình hình phân bổ vốn lưu động và tỷ trọng mỗi khoản vốn chiếm tại các thời điểm như thế nào là hợp lý, để từ đó lập kế hoạch, chính sách quản lý vốn lưu động nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong từng điều kiện cụ thể. Vậy vốn lưu động bao gồm: 1.1 Vốn bằng tiền và các khoản đầu tư ngắn hạn Vốn bằng tiền của doanh nghiệp là tài sản mà doanh nghiệp nào cũng có và sử dụng, có thể gọi đó là mạch máu lưu thông của doanh nghiệp.
VBT của doanh nghiệp bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ở các ngân hàng, các công ty tài chính và các khoản tiền đang chuyển. Đơn vị tiền tệ của VBT được sử dụng thống nhất là Đồng Việt Nam. Ở các doanh nghiệp có sử dụng đồng ngoại tệ trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, phải quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá thực tế do liên ngân hàng công bố. Vì đây là loại tài sản có thể sử dụng ngay để thanh toán hay đáp ứng các nhu cầu chi tiêu khác, là loại tài sản có tính luân chuyển cao nhất.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm đó thì VBT trong việc dữ trữ nhiều tuy đáp ứng nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp nhưng cũng thể hiện doanh nghiệp để ứ đọng vốn không đưa vào sản xuất kinh doanh sẽ làm mất khả năng sinh lời của vốn. Ngược lại, nếu dự trữ VBT quá ít cũng ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp khi có nợ tới hạn. Do đó, Sinh viên: Nguyễn Sỹ Hiệp - QT1801T Footer Page 14 of 107. Page 4 Header Page 15 of 107.
Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Dân Lập Hải Phòng đòi hỏi phải có những nguyên tắc quản lý và sử dụng chặt chẽ nhất định để tránh thất thoát lãng phí và gian lận. Đầu tư ngắn hạn: Là khoản vốn doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư mua vào cổ phiếu, trái phiếu có giá trị hoặc góp vốn liên doanh bằng tiền, hiện vật, có thể thu hồi kịp thời trong vòng thời hạn không quá một năm. Các nhà quản trị thường xem khoản đầu tư ngắn hạn là lớp đệm nhằm đảm bảo cho khả năng thanh toán của doanh nghiệp khi thiếu vốn kinh doanh bằng tiền.2 Các khoản phải thu Phản ánh toàn bộ giá trị phải thu đối với các tổ chức, cá nhân bao gồm: phải thu khách hàng, phải thu nội bộ, phải thu khác, tạm ứng. Chỉ tiêu này phản ánh mức độ vốn kinh doanh của doanh nghiệp đang bị các đơn vị khác tạm thời sử dụng do chính sách tín dụng bán hàng, dịch vụ cho khách hàng, quan hệ tài chính nội bộ.Do doanh thu tiêu thụ có mối quan hệ với chính sách tín dụng bán hàng, vì thế khả năng quản lý nợ và khả năng thanh toán của khách hàng là một trong các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị của chi tiêu này (tỷ trọng cao hay thấp).
Xét về khía cạnh tài chính, nếu doanh nghiệp thu hồi được khoản phải thu thì sẽ bổ sung được lượng vốn dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Về mặt pháp lý, các khoản phải thu được xem là khoản sử dụng hợp pháp của khách nợ nếu giá trị các khoản nợ này còn nằm trong thời hạn thanh toán, các khoản này được xem là không hợp pháp khi đã quá hạn thanh toán. Lúc này doanh nghiệp cần tìm hiểu các nguyên nhân để có biện pháp điều chỉnh kịp thời như: giảm mức dư nợ định mức cho các khách hàng thanh toán chậm, ngưng cung cấp hàng hóa dịch vụ.3 Hàng tồn kho Hàng tồn kho là một bộ phận tài sản đảm bảo cho quá trình sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp được tiến hành liên tục. Khái niệm hàng tồn kho được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các loại dự trữ cho sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp như: nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, hàng mua đi đường, thành phẩm, hàng hóa, giá trị sản phẩm dở dang, hàng gửi đi bán.
Tỷ trọng hàng tồn kho cao Sinh viên: Nguyễn Sỹ Hiệp - QT1801T Footer Page 15 of 107. Page 5 Header Page 16 of 107. Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Dân Lập Hải Phòng hay thấp tùy thuộc vào đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của từng loại hình doanh nghiệp.4 Các loại tài sản lưu động khác Ngoài các khoản trên, vốn lưu động của doanh nghiệp còn tồn tại dưới dạng như: tạm ứng, chi phí trả trước ngắn hạn, tài sản thiếu chờ xử lý, các khoản thế chấp, ký cược ký quỹ ngắn hạn. Mỗi loại tài sản này có những đặc điểm riêng vì thế mà doanh nghiệp cần có chính sách phù hợp.
Đặc điểm và vai trò của vốn lưu động trong doanh nghiệp Với những đặc điểm trên, vai trò của vốn lưu động trong doanh nghiệp là rất quan trọng. Trước hết là doanh nghiệp không thể hoạt động sản xuất nếu thiếu nguyên vật liệu, vật tư, không thể tiêu thụ nhiều hàng hóa nếu không có chính sách tín dụng bán hàng, tiền để chi trả các khoản chi tiêu khác. Vốn lưu động còn có vai trò đặc biệt đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ vì các doanh nghiệp này khó có điều kiện đầu tư vào tài sản cố định và ít có cơ hội đến với thị trường tài chính dài hạn. Thông thường ở những doanh nghiệp này trông cậy vào thời hạn tín dụng, mức tín dụng cho phép đối với từng khách hàng và tín dụng ngắn hạn của ngân hàng, các yếu tố này có ảnh hưởng đến vốn lưu động ròng vì nó làm tăng tài sản lưu động.
Có thể nói vốn lưu động có vai trò quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp, hiệu quả kinh doanh cao hay thấp phụ thuộc rất nhiều vào khả năng khai thác, chính sách dự trữ và tính thời vụ trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần phải xác định một quy mô, phân bổ hợp lý ở các giai đoạn luân chuyển, tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn thì số vốn ít nhất có thể đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. Tuy nhiên lượng vốn lưu động quá lớn sẽ gây dư thừa lãng phí vốn, ngược lại vốn lưu động quá ít gây nên tình trạng thiếu vốn làm quá trình sản xuất kinh doanh gián đoạn. Vì vậy cần xác định quy mô, cơ cấu vốn lưu động hợp lý là vấn đề cần thiết cho từng doanh nghiệp.2 Phương pháp phân tích Để đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp cũng như kết luận cụ thể về hiệu quả sử dụng từng loại nguồn lực, từng loại tài sản.có nhiều Sinh viên: Nguyễn Sỹ Hiệp - QT1801T Footer Page 16 of 107.
Page 6 Header Page 17 of 107. Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Dân Lập Hải Phòng phương pháp phân tích khác nhau. Tuy nhiên trong phân tích tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động thường sử dụng hai phương pháp chính là phương pháp so sánh và phương pháp loại trừ.1 Phương pháp so sánh Phương pháp so sánh là phương pháp sử dụng phổ biến nhất trong phân tích tài chính. Để vận dụng phép so sánh trong phân tích tài chính cần quan tâm đến tiêu chuẩn so sánh, điều kiện so sánh của chỉ tiêu phân tích cũng như kỹ thuật so sánh.
- Tiêu chuẩn so sánh: (Gốc so sánh) + Sử dụng số liệu tài chính ở nhiều kỳ trước để đánh giá và dự báo xu hướng các chỉ tiêu tài chính. Thông thường số liệu phân tích được tổ chức từ 3 đến 5 năm liền kề. + Sử dụng số liệu trung bình ngành để đánh giá sự tiến bộ về hoạt động tài chính của doanh nghiệp so với mức trung bình tiên tiến của ngành. + Sử dụng các số kế hoạch, số dự toán để đánh giá doanh nghiệp có đạt mục tiêu tài chính trong năm.
Thông thường các nhà quản trị doanh nghiệp chọn gốc so sánh để xây dựng chiến lược hoạt động cho tổ chức của mình. - Điều kiện so sánh: Các chỉ tiêu so sánh phải phù hợp với yếu tố không gian, thời gian, phải có cùng nội dung kinh tế, có cùng phương pháp thanh toán, đơn vị đo lường như nhau, quy mô và điều kiện kinh doanh. Ngoài ra, tính so sánh được còn liên quan việc tuân thủ theo chuẩn mực kế toán đã ban hành. - Kỹ thuật so sánh: + So sánh theo chiều ngang (trình bày báo cáo theo kiểu so sánh) + So sánh theo chiều dọc (trình bày báo cáo theo quy mô chung) 1.2 Phương pháp loại trừ Phương pháp này thể hiện qua hai phương pháp: phương pháp thay thế liên hoàn và phương pháp chênh lệch.
- Phương pháp thay thế liên hoàn: là phương pháp dùng để xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích khi giả định các nhân tố Sinh viên: Nguyễn Sỹ Hiệp - QT1801T Footer Page 17 of 107. Page 7 Header Page 18 of 107. Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Dân Lập Hải Phòng còn lại không thay đổi bằng cách lần lượt thay thế từng nhân tố từ kỳ gốc sang kỳ phân tích. Trên cơ sở đó tổng hợp lại mức độ ảnh hưởng của tất cả các nhân tố với đối tượng nghiên cứu.
+ Nhân tố lượng thay đổi trước, nhân tố chất thay đổi sau. + Trong trường hợp có ảnh hưởng của nhân tố kết cấu thì nhân tố lượng thay đổi trước tiên, đến nhân tố kết cấu và cuối cùng là nhân tố chất. - Phương pháp số chênh lệch: Đây là trường hợp đặc biệt của phương pháp thay thế liên hoàn, được áp dụng khi giữa các nhân tố có mối quan hệ tích số. Ảnh hưởng của nhân tố nào đến chỉ tiêu phân tích bằng số chênh lệch giữa kỳ phân tích và kỳ gốc của nhân tố đó nhân với các nhân tố khác đã cố định.Nội dung phân tích tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp 1.