chương 1 luật doanh nghiệp 68/2014/QH13) Doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo pháp luật Việt Nam và có trụ sở chính tại Việt Nam.(mục 9 của luật trên) Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là văn bản hoặc bản điện tử mà Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp cho doanh nghiệp ghi lại những thông tin về đăng ký doanh nghiệp. (mục 12 của luật trên) Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhăm mục đích sinh lợi. (mục 16 luật trên) Theo Điều 8 của luật này, nghĩa vụ của doanh nghiệp bao gồm: -Đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh khi kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo quy định của Luật đầu tư và bảo đảm duy trì đủ điều kiện đầu tư kinh doanh đó trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh. - Tổ chức công tác kế toán, lập và nộp báo cáo tài chính trung thực, chính xác, đúng thời hạn theo quy định của pháp luật về kế toán, thống kê.
- Kê khai thuế, nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật. - Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động theo quy định của pháp luật về lao động; không được phân biệt đối xử và xúc phạm danh dự, nhân phâm của người lao động trong doanh nghiệp; không được sử dụng lao động cưỡng bức và lao động trẻ em; hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động tham gia đào tạo nâng cao trình độ, kỹ năng nghề; thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế và bảo hiểm khác cho người lao động theo quy định của pháp luật. - Bảo đảm và chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa, dịch vụ theo tiêu chuẩn do pháp luật quy định hoặc tiêu chuan đã đăng ký hoặc công bố. - Thực hiện đầy đủ, kịp thời các nghĩa vụ về đăng ký doanh nghiệp, đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, công khai thông tin về thành lập và hoạt động, báo cáo và các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và các báo cáo; trường hợp phát hiện thông tin đã kê khai hoặc báo cáo thiếu chính xác, chưa đầy đủ thì phải kịp thời sửa đổi, bỗ sung các thông tin đó. - Tuân thủ quy định của pháp luật về quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bình đăng giới, bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo vệ di tích lịch sử-văn hóa và danh lam thắng cảnh. - Thực hiện nghĩa vụ về đạo đức kinh doanh để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng và người tiêu dùng.Khái niệm về vốn của doanh nghiệp Bất cứ một doanh nghiệp nào khi tiễn hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì cũng cần phải có vốn, vốn là yếu tố không thê thiếu được của mọi quá trình sản xuất kinh doanh, đo đó việc quản lý và sử dụng vốn đã là một nội dung quan trọng trong quản lý tài chính của doanh nghiệp. Mục đích của việc quản lý vốn là đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh được liên tục, làm cho nguồn vốn luôn được mở rộng tạo tiềm lực tài chính lớn mạnh cho doanh nghiệp.
Vì vậy việc xác định được đâu là vốn của một doanh nghiệp là điều cần thiết đảm bảo cho việc sử dụng vốn một cách có hiệu quả nhất. Vốn là tiền đề cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp do đó vốn được hình thành ngay từ khi doanh nghiệp được thành lập và vốn sẽ biến đổi theo thời gian cùng với quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Vốn sẽ được bảo toàn và tăng trưởng khi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả. Mức tăng trưởng của vốn tự có sẽ được lay từ phần lợi nhuận giữ lại dùng để tái đầu tư.
Tùy vào chính sách của từng doanh nghiệp và tùy vào mức độ sinh lời của hoạt động sản xuất kinh doanh mà phần vốn được tăng thêm này sẽ nhiều hay ít. Ngoài phần bổ sung từ lợi nhuận giữ lại dé tái đầu tư, vốn của doanh nghiệp có thé được huy động bé sung từ nhiều nguồn khác nhau dé phục vụ cho nhu cầu mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, không có lợi nhuận dé tái đầu tư, không có khả năng dé huy động từ các nguồn khác thì vốn của doanh nghiệp sẽ giảm dần gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thậm chí có thê dẫn tới tình trạng phá sản. Như vậy, vốn là tiền đề của mọi quá trình sản xuất kinh doanh và nó có thé tăng thêm hay giảm đi phụ thuộc vào mức độ hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh và chính sách đầu tư của mỗi doanh nghiệp.
Nhìn chung vốn của doanh nghiệp mang những đặc điểm sau: - Vốn được quan niệm là một hàng hóa đặc biệt, nó có giá tri và gia tri sử dụng. Giá trị của hàng hóa này chính là giá trị của bản thân nó còn giá trị sử dụng của nó là thông qua việc mua bán trên thi trường tạo ra một giá tri sử dụng lớn hon. - Vốn đại diện cho một lượng giá trị tài sản thực trong doanh nghiệp hay nói cách khác vốn thể hiện giá trị của tài sản hữu hình và tài sản vô hình. Không phải mọi tài sản đều được coi là vốn, chỉ những tài sản có giá trị được sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh mới được coi là vốn.
- Vốn luôn vận động nhằm mục đích tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn, để tiền biến thành vốn thì nó phải được sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh, được vận động và sinh lời. Vốn sau quá trình chuyền hóa vận động sẽ trở về hình thái ban đầu và sẽ mang lại giá trị lớn hơn vì vậy đồng vốn bị ứ đọng không tạo ra được lợi nhuận thì được gọi là đồng vốn chết. - Vốn có giá tri về mặt thời gian, một đồng vốn ở thời điểm hiện tại sẽ lớn hơn một đồng vốn trong tương lai do đó xem xét hiệu quả kinh doanh là xem mỗi đồng vốn đầu tư vào kinh doanh phải không ngừng vận động và tăng trưởng.
- Doanh nghiệp nào khi ra đời cũng cần có một lượng vốn nhất định bởi vì với mọi hoạt động sản xuất kinh doanh nào muốn tiến hành được đều phải cần có vốn. Nó là điều kiện cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Về mặt pháp lý, một doanh nghiệp muốn được thành lập thì trước tiên phải có một số vốn nhất định được gọi là vốn pháp định, vốn pháp định được Nhà nước quy định theo từng ngành nghề kinh doanh là khác nhau. -Mặt khác sau khi được thành lập để có thể tồn tại trong môi trường kinh doanh có nhiều biến động và sự cạnh tranh gay gắt thì đòi hỏi doanh nghiệp phải có một ưu thế về một khía cạnh nào đó.
Ngày nay, với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thì doanh nghiệp nào có được công nghệ tiên tiến hiện đại thì đó là một ưu thế lớn của doanh nghiệp đó. Có công nghệ hiện đại doanh nghiệp có thể sản xuất ra sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ và tiết kiệm được thời gian hao phí giúp nâng cao vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Đề có được công nghệ hiện đại thì đòi hỏi doanh nghiệp phải có vốn dé đầu tư. Như vậy vốn là yếu tố quan trọng quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp đứng vững trong bối cảnh hội nhập hiện nay.
Hoạt động cua doanh nghiệp. Đầu tư ra thị trường nước ngoài là đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thế giới hiện nay. Nó có tác động lớn và ảnh hưởng trực tiếp tính bền vững và tốc độ phát triển của nền kinh tế trên toàn thế giới. Đối với những nước có doanh nghiệp đầu tư ra thị trường quốc tế, nó có ý nghĩa rất lớn đối với nền kinh tế của nước đó, không những là “chiếc bánh thứ hai” cho nền kinh tế mà còn giúp các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh trên trường quốc tế, tránh các rào cản thuế quan và phi thuế quan, mở rộng được thị phần tiêu thụ cho sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp mình, nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên trường quốc tế.
Các nước đang phát triển và chậm phát triển cũng hoàn toàn có khả năng và có nhiều cơ hội để đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, thậm chí đầu tư vào các nước phát triển, nếu các nhà đầu tư, các doanh nghiệp chủ động, sáng tạo và biết đánh giá đúng cơ hội. Hơn thế nữa, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài còn tao nhiều điều kiện để các doanh nghiệp tự hoàn thiện mình, góp phần phát triển kinh tế và hoàn thiện các chính sách kinh tế của đất nước. Nhận thức tầm quan trọng của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, trong thời gian quan Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm khai thác lợi ích của hoạt động lưu chuyền loại vốn đầu tư quốc tế này. Su cân thiệt phải dau tu trực tiêp ra nước ngoài của các nước đang phát triên -Đầu tư ra nước ngoài nói chung và đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nói riêng giúp cho doanh nghiệp của các nước đang phát triển làm quen và thích nghi dần với thị trường khu vực và thé giới.
-Trong thời đại bùng nỗ khoa học và CNTT thì đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một trong những phương pháp ít tốn kém nhất mà các doanh nghiệp các nước đang phát triển có thé áp dụng dé tiếp cận với KHCN cao, đồng thời học hỏi những ứng dụng trong CNTT, một trong những lĩnh vực là chìa khóa then chốt cho sự phát triển và thành công. -Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài còn giúp các doanh nghiệp san sẻ rủi ro trong đầu tư và trong kinh doanh.