Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC VỀ ðẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI 1.1 Bản chất, ñặc ñiểm về ñầu tư trực tiếp ra nước ngoài 1.1 Bản chất của hoạt ñộng OFDI Từ giữa thế kỷ XIX ñến ñầu thế kỷ XX, sự phát triển của vận tải ñường thủy và ñường sắt khiến chi phí vận chuyển giảm mạnh ñã thúc ñẩy sự phát triển của OFDI. Cụ thể từ năm 1860 ñến 1910, các nước Anh, Pháp, ðức ñã ñua nhau ñầu tư vốn ra nước ngoài trong ñó Anh là nước thực hiện OFDI lớn nhất, chiếm khoảng 45% tổng lượng vốn FDI toàn cầu và Mỹ là nước tiếp nhận FDI lớn nhất. Giai ñoạn khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933, FDI vẫn không bị tác ñộng mạnh mà vẫn tăng trưởng tốt. Mỹ dần trở thành một trong những nước dẫn ñầu trong hoạt ñộng OFDI trên thế giới.
Thời kỳ 1945-1960 Mỹ ñã vượt lên ñứng ñầu thế giới về OFDI. Với kế hoạch Marshall giúp tái thiết lại châu Âu cùng với việc triển khai quân ñội Mỹ trên châu Âu thời hậu chiến, trên bán ñảo Nhật Bản và Triều Tiên, các doanh nghiệp Mỹ ñã ñưa một lượng vốn ñầu tư, kỹ thuật công nghệ vào các khu vực ñó. Thời kỳ 1960-2000, dòng vốn ñầu tư chuyển hướng sang lĩnh vực sản xuất và dịch vụ. Sau năm 2000 thì dòng vốn FDI có sự giảm sút những năm ñầu (2001, 2002, 2003) do kinh tế thế giới tăng trưởng chậm và bất ổn ở Mỹ, I-rắc.
Từ năm 2004 lại nay, FDI thế giới tiếp tục tăng trưởng ổn ñịnh [14]. Trước hết ta phải hiểu rõ ñầu tư là gì? Cho ñến nay, có khá nhiều khái niệm về ñầu tư và quan ñiểm khác nhau về vấn ñề này tuy nhiên, một khái niệm về ñầu tư ñược khá nhiều người thừa nhận ñó là: “ðầu tư là việc sử dụng một lượng tài sản nhất ñịnh như vốn, công nghệ, ñất ñai,… vào một hoạt ñộng kinh tế cụ thể nhằm tạo ra một hoặc nhiều sản phẩm cho xã hội ñể thu lợi nhuận” [13,tr 28]. Nhà ñầu tư là người bỏ vốn ñể tiến hành kinh luan an 10 doanh, các tài sản ñầu tư thuộc quyền sở hữu của nhà ñầu tư và nhà ñầu tư có thể là Nhà nước, tổ chức hoặc là cá nhân. Theo [13, tr 29] thì có hai ñặc trưng quan trọng ñể phân biệt một hoạt ñộng ñầu tư với hoạt ñộng không phải là ñầu tư ñó là tính sinh lãi và rủi ro trong hoạt ñộng ñầu tư.
Lý do là nhà ñầu tư không thể bỏ vốn vào một hoạt ñộng mà không dự tính thu ñược giá trị cao hơn ban ñầu. Tuy nhiên, nếu hoạt ñộng ñầu tư nào cũng sinh lãi thì trong xã hội ai cũng muốn trở thành nhà ñầu tư. Chính hai thuộc tính này ñã sàng lọc các nhà ñầu tư và thúc ñẩy SX xã hội phát triển. Từ các thuộc tính trên ta thấy mục ñích của nhà ñầu tư là nhằm thu ñược lợi nhuận do ñó bất kỳ sự hao phí về vật chất lẫn phi vật chất mà không vì mục tiêu lợi nhuận thì không phải là ñầu tư.
Qua phân tích, ta thấy bản chất của OFDI là ñầu tư tức là con ñường tìm kiếm lợi nhuận bằng cách bỏ vốn của chủ ñầu tư, do ñó OFDI có ñầy ñủ các ñặc ñiểm của hoạt ñộng ñầu tư. Mặt khác, khi có OFDI sẽ xuất hiện IFDI (khi có nước ñi ñầu tư sẽ xuất hiện nước nhận ñầu tư) và ñây chính là ñầu tư trực tiếp nước ngoài. Bởi vậy, trong thực tế các nghiên cứu tập trung vào ñầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là nghiên cứu cả hai khía cạnh OFDI và IFDI. Vấn ñề là mục tiêu nhằm vào hoạt ñộng ñầu tư ra hay ñầu tư vào ñể nghiên cứu mà thôi.
ðể làm rõ hơn bản chất của hoạt ñộng ñầu tư này tác giả ñi sâu phân tích một số khái niệm phổ biến như sau: Theo Ngân hàng Thế giới ñịnh nghĩa: “ðầu tư trực tiếp nước ngoài là việc công dân của một nước thành lập hoặc mua lại một phần ñáng kể sở hữu và quản lý ít nhất 10% vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ở một nước khác” [16, tr. Tuy nhiên, không phải tất cả các quốc gia nào ñều sử dụng mức 10% làm mốc xác ñịnh FDI. Trong thực tế có những trường hợp tỷ lệ sở hữu tài sản trong doanh nghiệp của chủ ñầu tư nhỏ hơn 10% nhưng họ vẫn ñược luan an 11 quyền ñiều hành quản lý doanh nghiệp, ngược lại, nhiều lúc tỷ lệ này lớn hơn 10% nhưng vẫn chỉ là ñầu tư gián tiếp. Theo Luật ñầu tư của Việt Nam: "ðầu tư trực tiếp ra nước ngoài là việc nhà ñầu tư ñưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác từ Việt Nam ra nước ngoài ñể tiến hành hoạt ñộng ñầu tư" [27].
Khái niệm này chỉ mới nêu ra hình thức của vấn ñề ñầu tư mà chưa thể hiện ñược mục tiêu ñầu tư. Khái niệm còn trùng lặp ở chỗ “vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác” trong khi ñó “vốn bằng tiền” cũng là tài sản (tài sản lưu ñộng). Từ những khái niệm trên, theo tác giả, OFDI có thể ñược hiểu như sau: “ðầu tư trực tiếp ra nước ngoài tại một quốc gia là việc nhà ñầu tư ở một quốc gia khác ñưa tài sản vào quốc gia ñó ñể ñược quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia ñó, nhằm thu lợi nhuận cao cho nhà ñầu tư”. Tài sản trong khái niệm này, theo thông lệ quốc tế, có thể là tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, tiền mặt, kim loại quý, các loại hợp ñồng và giấy phép có giá trị …), tài sản vô hình (quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết và kinh nghiệm quản lý…) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấy ghi nợ…).
Mặt khác, việc “ñưa tài sản” ñầu tư phải ñảm bảo có quyền sở hữu hợp pháp, giá trị tài sản trong thực thể ñó phải ñủ lớn ñể nhà ñầu tư có quyền quản lý, kiểm soát thực thể kinh tế ñó. Và quan trọng hơn là “nhằm thu lợi nhuận cao cho nhà ñầu tư”. Mục tiêu thu lợi nhuận cao có thể trước mắt nhưng cũng có thể là mục tiêu lâu dài. Ngoài ra, có thể hiểu trên bình diện tổng quát hơn khi nhà ñầu tư (nếu là Nhà nước) có thể không trực tiếp thu lợi nhuận cao nhưng các chủ thể kinh tế (của nước ñi ñầu tư) thu ñược lợi nhuận cao nên hiệu quả kinh tế xã hội tốt hơn (cho Nhà nước).
Gắn liền với lịch sử FDI, các lý thuyết về FDI cũng không ngừng ñược nghiên cứu trên nhiều khía cạnh với nhiều mục ñích khác nhau nhằm lý giải luan an 12 hiện tượng FDI, nhằm thúc ñẩy hoặc thu hút FDI và ñề xuất các chính sách hỗ trợ cho hoạt ñộng này. Ở Việt Nam, nghiên cứu thu hút IFDI vẫn là chủ yếu, nghiên cứu thúc ñẩy OFDI mới ñược quan tâm một vài năm gần ñây với số lượng hết sức hạn chế. Các các kết quả nghiên cứu ñã chỉ ra những nguyên nhân chính của hoạt ñộng OFDI trong doanh nghiệp là: 1. Doanh nghiệp có thể có lợi thế hơn một doanh nghiệp khác về lợi thế SX một loại sản phẩm nào ñó nếu SX sản phẩm ñó ở nước ngoài.
Chính vì vậy, doanh nghiệp sẽ ñiều hành SX ở nước ngoài nhằm thu ñược nhiều lợi nhuận hơn [49]. Sản phẩm mới thường có xu hướng ñộc quyền và có giá thành hạ, vì vậy các doanh nghiệp có sản phẩm mới ñã tích cực mở rộng phạm vi SX ra thị trường quốc tế ñể khai thác lợi thế ñộc quyền nhằm tối ña hóa lợi nhuận. ðể tránh lâm vào suy thoái và khai thác hiệu quả SX theo quy mô, doanh nghiệp phải mở rộng thị trường tiêu thụ ra quốc tế nhưng các hoạt ñộng xuất khẩu ñã gặp trở ngại bởi hàng rào thuế quan và cước phí vận chuyển. Vì thế, doanh nghiệp di chuyển SX ra quốc tế ñể vượt qua những trở ngại này [14].
Do thị trường cạnh tranh không hoàn hảo nên các doanh nghiệp ña quốc gia thu ñược lợi nhuận từ giá chuyển giao thông qua trao ñổi giữa các chi nhánh trong cùng một doanh nghiệp ña quốc gia ở các nước [13]. Các doanh nghiệp OFDI còn nhằm chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản lý, tạo việc làm, tạo thị trường cho các nước ñang phát triển, ñồng thời nhờ quá trình quốc tế hóa SX phối hợp sử dụng hiệu quả các nguồn lực có lợi thế so sánh như lao ñộng rẻ và tài nguyên thiên nhiên dồi dào. Như vậy, bản chất và ñộng lực của các doanh nghiệp OFDI là vấn ñề mở rộng thị trường, tăng chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản lý, tận dụng lợi luan an 13 thế so sánh của doanh nghiệp… và từ ñó ñể tăng hiệu quả SX kinh doanh của doanh nghiệp mà cụ thể nhất là gia tăng và duy trì lợi nhuận cao trong dài hạn. ðối với Việt Nam, cũng như nhiều nước ñang phát triển khác, ñang thu hút vốn ñầu tư từ nước ngoài vào là chủ yếu song vẫn ñặt ra hoạt ñộng OFDI vì như phân tích ở trên, OFDI là hoạt ñộng tất yếu của nền kinh tế khi ñã có tích lũy và muốn có thêm lợi thế trong kinh doanh.1: ðầu tư của một số cường quốc trên thế giới ðơn vị tính: Tỷ USD Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 TT Quốc gia ðầu tư ðầu tư ðầu tư ðầu tư ðầu tư ðầu tư vào ra vào ra vào ra 1 Mỹ 306,366 308,296 152,892 282,686 228,249 328,905 2 Trung Quốc 108,312 52,150 95,000 56,530 105,735 68,000 3 Nhật 24,426 128,019 11,939 74,699 -1.263 4 Anh 91,489 161,056 71,140 44,381 45,908 11,020 Nguồn: [66] Hoạt ñộng OFDI ñối với Việt Nam là tất yếu khách quan vì những lý do sau ñây: Xét về mặt vĩ mô: khi nền kinh tế càng phát triển thì biên giới giữa các quốc gia ngày càng gần lại, ranh giới giữa các nước là ranh giới mềm, ranh giới về mặt thương mại và ñầu tư sẽ ñóng vai trò quyết ñịnh.
ðầu tư giữa các nước sẽ là cơ hội tận dụng các lợi thế thương mại và lợi thế so sánh quốc tế. ðối với mỗi doanh nghiệp, việc tìm kiếm cơ hội ñầu tư ở ngoài lãnh thổ Việt Nam là cần thiết nhằm bổ sung và khai thác các nguồn lợi của nước bạn, tăng hiệu quả SX kinh doanh. Trong giai ñoạn hiện nay, ñể phục vụ phát triển luan an 14 kinh tế, Việt Nam cần nhập khẩu nhiều tài nguyên khoáng sản, năng lượng ñiện.