CHƯƠNG I TỔNG LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI I. CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) 1. Khái niệm về đầu tư quốc tế Theo luật kinh doanh năm 1999 thì “Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”. Như vậy có thể hiểu Kinh doanh quốc tế là toàn bộ các hoạt động giao dịch kinh doanh có liên quan từ hai quốc gia trở lên nhằm thỏa mãn các mục tiêu sinh lời của các doanh nghiệp, cá nhân, Chính phủ và các tổ chức kinh tế xã hội tham gia kinh doanh.
Hoạt động kinh doanh quốc tế xuất hiện cùng với sự ra đời và phát triển của Chủ nghĩa trọng thương (từ thế kỷ XV). Giai đoạn đầu, kinh doanh quốc tế chỉ đơn thuần là hoạt động xuất nhập khẩu (thương mại quốc tế). Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là sự phát triển của chủ nghĩa tư bản tài chính và sự xuất hiện của các rào cản thương mại thì kinh doanh quốc tế là Đầu tư quốc tế. Đó là phương thức đầu tư vốn, tài sản ở nước ngoài để tiến hành sản xuất kinh doanh, dịch vụ với mục đích tìm kiếm lợi nhuận và những mục tiêu Kinh tế - Xã hội khác.
Về bản chất, đầu tư quốc tế là hình thức xuất khẩu tư bản (vốn), một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hóa. Đó là hai hình thức xuất khẩu luôn bổ sung cho nhau và hỗ trợ lẫn nhau trong chiến lược thâm nhập thị trường của các công ty, tập đoàn nước ngoài. Đầu tư quốc tế là yếu tố quan trọng của kinh tế đối ngoại, là sự di chuyển vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác bằng các dự án đầu tư nhằm mang lại lợi ích cho các bên tham gia. Quá trình đầu tư quốc tế là sự di chuyển của các dòng vốn vượt ra khỏi biên giới quốc gia nhằm khai thác những “lợi thế so sánh” của quốc gia sở tại, thu lợi cho chủ đầu tư.
Hoạt động đầu tư quốc tế được tiến hành theo hai hình thức Đầu tư trực tiếp (FDI) và đầu tư gián tiếp (FPI). Sự khác nhau cơ bản của hai hình thức đầu Đinh Thị Hà Dung 4 Lớp MBA 2010B Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội tư này là Chủ đầu tư FDI tạo ra tài sản ở tại quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư. FPI là nhà đầu tư không trực tiếp tạo ra tài sản ở quốc gia nhận vốn đầu tư để thu lời, mà thu lợi gián tiếp qua người khác đầu tư, đó là hình thức mua cổ phiếu, trái phiếu. Các hình thức chủ yếu của đầu tư quốc tế được thể hiện qua sơ đồ sau: Vốn đầu tư quốc tế Đầu tư của Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của tư nhân Chính phủ nước ngoài và các tổ chức quốc tế Tín Tín Đầu tư Đầu tư Hỗ trợ dụng Hỗ trợ dụng trực gián phi dự thương dự án thương tiếp tiếp mại án mại FDI FPI Sơ đồ 1: Cơ cấu vốn đầu tư quốc tế Luận văn này tập trung bàn về đầu tư trực tiếp (FDI).
Khái niệm, các đặc trưng của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment – FDI) ra đời và phát triển là kết quả tất yếu của quá trình quốc tế hóa và phân công lao động quốc tế. Trên thực tế có nhiều cách hiểu khác nhau về đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nhìn chung đầu tư trực tiếp nước ngoài được xem như một hoạt động kinh doanh ở đó có yếu tố di chuyển vốn quốc tế và kèm theo đó là chuyển giao công nghệ, kỹ năng Đinh Thị Hà Dung 5 Lớp MBA 2010B Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội quản lý và các ảnh hưởng kinh tế xã hội khác đối với nước nhận đầu tư. Theo Luật Đầu tư nước ngoài của Việt Nam, đầu tư trực tiếp nước ngoài được hiểu như là việc các tổ chức, các cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vốn đầu tư vào Việt Nam.
Vốn đó có thể bằng tiền hoặc bằng bất cứ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp nhận để hợp tác với bên Việt Nam hoặc tự nhà đầu tư tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam. Đầu tư trực tiếp nước ngoài có một số đặc điểm - Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi. Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư. - Chủ đầu tư nước ngoài điều hành toàn bộ hoạt động đầu tư nếu là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên doanh tùy theo tỷ lệ góp vốn.
Thông qua hình thức này, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý… là những mục tiêu mà các hình thức đầu tư khác không giải quyết được. Nguồn vốn FDI không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư dưới hình thức vốn pháp định, còn bao gồm cả vốn vay của nhà đầu tư để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư từ nguồn lợi nhuận thu được. Ngày nay FDI là hình thức đầu tư phổ biến nhất và có hiệu quả nhất trong các loại hình đầu tư có yếu tố nước ngoài. Theo Luật Đầu tư nước ngoài của Việt Nam, đầu tư trực tiếp nước ngoài có các hình thức sau: Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai hoặc nhiều bên để cùng nhau tiến hành một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh tại Việt Nam trên cơ sở Đinh Thị Hà Dung 6 Lớp MBA 2010B Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lập một pháp nhân mới.
Hợp đồng hợp tác kinh doanh phải được đại diện có thẩm quyền của các bên ký kết. Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh được ký kết giữa các bên (bên nước ngoài và bên Việt Nam). Doanh nghiệp liên doanh có tư cách pháp nhân, các bên tham gia liên doanh được chia lợi nhuận và chia rủi ro theo tỷ lệ góp vốn của mỗi bên trong tổng vốn pháp định của liên doanh. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp hoàn toàn thuộc sở hữu của các cá nhân, tổ chức nước ngoài do họ thành lập và quản lý.
Nó là một pháp nhân mới của Việt Nam dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn. Đầu tư theo các hình thức BOT, BT, BTO là các hình thức đầu tư đặc biệt thường áp dụng cho các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng. Sự ra đời của các phương thức này nhằm tạo thêm nguồn vốn, xúc tiến nhanh chóng việc ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng, đồng thời san sẻ một phần gánh nặng ngân sách Nhà nước đầu tư cho cơ sở hạ tầng, cụ thể: Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT) là văn bản ký kết giữa chủ đầu tư nước ngoài với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để xây dựng cơ sở hạ tầng tại Việt Nam, bên nước ngoài bỏ vốn đầu tư xây dựng công trình và kinh doanh trên công trình đó để thu hồi vốn và có lãi hợp lý, sau đó có nghĩa vụ chuyển giao công trình cho Nhà nước Việt Nam mà không được thu thêm bất kỳ khoản tiền nào khác. Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (BTO) là văn bản ký kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng.
Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nhà nước Việt Nam. Nhà nước Việt Nam cho phép nhà đầu tư quyền kinh doanh trên công trình đó trong một thời gian nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý. Đinh Thị Hà Dung 7 Lớp MBA 2010B Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Hợp đồng xây dựng – chuyển giao (BT) là văn bản ký kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam.
Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và thu được lợi nhuận hợp lý. Tác dụng chủ yếu của FDI Vốn FDI có tác dụng rất lớn về nhiều mặt đối với cả nước xuất khẩu FDI lẫn nước tiếp nhận FDI. Đối với nước xuất khẩu FDI (nước chủ đầu tư) Đối với nước xuất khẩu FDI, luồng vốn này mang lại cho họ rất nhiều lợi ích: Thứ nhất, phần lớn các nước chủ đầu tư là những nước công nghiệp phát triển. Khi kinh tế biến động, tỷ suất lợi nhuận ở các nước này có xu hướng giảm và kèm theo là hiện tượng thừa tương đối về tư bản.
Bằng hình thức đầu tư trực tiếp, các nước này đã tận dụng được lợi thế so sánh của nước nhận đầu tư, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói chung cũng như tỷ suất sinh lợi nhuận của vốn FDI nói riêng. Thứ hai, đầu tư ra nước ngoài đã khắc phục được tình trạng “lão hóa” sản phẩm trong nước. Thông qua đầu tư quốc tế, các nước chủ đầu tư di chuyển một bộ phận sản xuất công nghiệp mà phần lớn là những máy móc cũ, lạc hậu sang nước kém phát triển hơn để tiếp tục sử dụng, kéo dài vòng đời của sản phẩm. Thứ ba, đầu tư ra nước ngoài giúp nước chủ đầu tư mở rộng được thị trường cung cấp nguyên liệu ổn định với giá có lợi.
Hầu hết các nước nhận đầu tư là những nước nghèo, có tài nguyên dồi dào nhưng lại hạn chế về vốn, kỹ thuật, công nghệ nên những tài nguyên đó chưa được sử dụng có hiệu quả. Thông qua việc đầu tư khai thác vào những ngành đó, nước chủ đầu tư có thể dễ dàng nhập khẩu những nguyên liệu để phục vụ cho sản xuất của nước mình. Thứ tư, đầu tư ra nước ngoài giúp nước chủ đầu tư bành trướng sức mạnh kinh tế và uy tín chính trị trên trường quốc tế.