CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐÓI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐÀU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài Luận án Tiến sỹ: “Chiến lược OFDI ra nước ngoài của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” của tác giả Nguyễn Hữu Huy Nhựt, 2011. Trên cơ sở lý luận và các kinh nghiệm đầu tư ra nước ngoài của các nước Đông Á, tác giả đã phân tích tình hình và những thuận lợi, khó khăn đối với OFDI ra nước ngoài của Việt Nam.
Bên cạnh đó, tác giả thực hiện khảo sát đối với một số DN đã đầu tư và đang có dự định đầu tư ra nước ngoài, từ đó phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của hoạt động OFDI ra nước ngoài của Việt Nam. Đồng thời, đưa ra các giải pháp mang tinh vĩ mô cũng như vi mô dé đầy mạnh dau tư ra nước ngoài của Việt Nam. Đây cũng là một công trình nghiên cứu khá chỉ tiết trong lĩnh vực OFDI ra nước ngoài. Song, góc độ tiếp cận của công trình này vẫn chỉ đứng chung chung, các phân tích đa số đứng dưới góc độ của DN [30].
Luận án Tiến sỹ: “Đầu tư của các DN Việt Nam ra nước ngoài trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” của tác giả Nguyễn Hải Đăng, 2013, tiếp cận lĩnh vực này dưới góc độ Kinh tế chính trị. Tác giả phân tích chỉ tiết hơn tình hình đầu tư ra nước ngoài của một số DN cụ thể để thấy được xu hướng đầu tư hiện nay của các DN Việt Nam. Tác giả cũng phân tích hoạt động OFDI ra nước ngoài gắn với bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Phần giải pháp đã đưa ra định hướng đầu tư trọng điểm.
Tuy nhiên, trong công trình nảy, hầu như tác giả cũng chỉ đề cập đến hoạt động OFDI dưới góc độ của DN, chưa đứng dưới góc độ QLNN để tiếp cận với lĩnh vực OFDI ra nước ngoài [28]. Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu về hoạt động OFDI ra nước ngoài như: “OFDI ra nước ngoài của các DN Việt Nam” của Ths Phan Tiến Ngọc, 2011; “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả OFDI ra nước ngoài của Việt Nam” của Ths Hoàng Thi Bích Loan, 2011; “OFDI ra nước ngoài của Việt Nam: Thành công 6 và hạn chế” của Ths Đoàn Thanh Nghị, 2012; “Đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam: vấn đề và giải pháp” của TS. Nguyễn Xuân Dũng, 2010; “Cơ cầu OFDI ra nước ngoài của Việt Nam” của Ths Nguyễn Thị Nhung, 2014; “Một số đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác thương mại và đầu tư Việt Nam - Campuchia giai đoạn 2013-2020” của TS. Nguyễn Huy Hoàng, 2014; “Đầu tư của Việt Nam ở Campuchia từ năm 1993 đến nay: Thực trạng và một số vấn đề đặt ra” của TS.
Nguyễn Thành Văn, 2015; “Đánh giá tình hình đầu tư của DN Việt Nam tại Campuchia”, 2016 của Trần Nam Trung. Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu đi vào phân tích thực trạng tình hình hoạt động OFDI ra nước ngoài của các DN VN theo các đối tác nhận đầu tư và theo các lĩnh vực đầu tư, từ đó đề xuất xây dựng các quan điểm đây mạnh hoạt động này, đồng thời dự báo về khả năng OFDI ra nước ngoài của VN. Tuy nhiên, các đề tài, công trình nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc mô tả tình hình đầu tư, kết quả của hoạt động đầu tư và đưa ra những thành công, hạn chế của hoạt động đầu tư. Về nghiên cứu mang tính tổng hợp các vấn dé lý thuyết, đáng chú ý là nghiên cứu của TS.
Đinh Trọng Thịnh, 2006 với đề tài “Thúc đẩy DN VN đầu tư trực tiếp ra nước ngoài”, tác giả đã nghiên cứu tổng quan các lý thuyết về đầu tư nước ngoài, hệ thống hóa các chính sách điều chỉnh hoạt động OFDI ra nước ngoài của VN, đề xuất một s6 giải pháp phát triển hoạt động OFDI ra nước ngoài trong bối cảnh hội nhập. Tuy nhiên, đề tài này chỉ mang tính tiền đề, đặt dấu mốc cho những nghiên cứu ban đầu về OFDI của các DN VN. Thực tế hoạt động OFDI cũng như các chính sách về OFDI của VN đã có rất nhiều thay đồi trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến nay [7]. Bài viết “Thúc day hoạt động đầu tư từ các tỉnh duyén hải miền Trung vào khu vực tam giác phát triển Campuchia, Lào, Việt Nam: Định hướng và giải pháp” của TS.
Nguyễn Đình Hiền, 2013 đã khẳng định liên kết, hợp tác phát triển kinh tế vùng trên phạm vi quốc tế là xu hướng ngày càng phổ biến trên thế giới. Cũng theo xu thế đó, chính phủ ba nước Lào, CPC, VN đã thành lập khu vực tam giác phát triển gồm 13 tỉnh có biên giới chung của ba nước vào năm 2004. Tác giả trên cơ sở đánh giá tong quan về khu vực tam giác phát triển Lào, CPC, VN đã khẳng định cần tiến hành xây dựng chiến lược xúc tiến đầu tư vào khu vực tam giác phát triển, cần gắn kết hoạt động đầu tư với hoạt động thương mại, du lịch [26]. Về QLNN đối với hoạt động đầu tư: Các nghiên cứu về vấn đề này được đề cập đến trong một số công trình của các tác giả như Trần Văn Nam, 2000; Nguyễn Thị Mão, 2001; Ngô Hoài Anh, 2006; Ngô Văn Hiền, 2008.
Các nghiên cứu trên đã đề cập về mặt lý luận và thực tiễn về hoạt động quản lý của nhà nước trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, các công trình này chưa đề cập đến QLNN đối với hoạt động OFDI, mới chỉ đề cập đến góc độ đầu tư trong nước. Về khía cạnh QLNN trong lĩnh vực OFDI, có nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện bởi các chuyên gia kinh tế, đồng thời cũng có nhiều công trình do các cơ quan quản lý thực hiện nhằm đưa ra những giải pháp cụ thé và hiệu quả cho công tác quản lý hoạt động OFDI. Cụ thé như: - Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ KH&ĐT hang năm đều thực hiện các báo cáo và đánh giá hoạt động OFDI, trình lên Chính phủ, và công bố rộng rãi trên công thông tin của Cục Đầu tư nước ngoài.
Các báo cáo gần đây nhất bao gồm: “Một số giải pháp thúc day OFDI của Việt Nam” năm 2012; “OFDI của Việt Nam - Thành công, và hạn chế” năm 2012; “Báo cáo về đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài” năm 2013. Trong các báo cáo, bài viết, Cục Đầu tư nước ngoài đã đưa ra nhiều quan điểm và giải pháp nhằm đảm bảo nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động này. - Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Công thương trong năm 2013 cũng đã tổng kết công tác quản lý liên quan đến hoạt động OFDI, trong đó đánh giá sự phối hợp giữa các cơ quan QLNN như Bộ KH&ĐT, Bộ Công thương, đặc biệt là trong khâu hậu kiểm. Tất cả các quan điểm, giải pháp mà các Bộ, Ngành đưa ra đề quản lý hoạt động OFDI đều chỉ đứng dưới góc độ quản lý của chính Bộ, Ngành đó.
Chính vì vậy, trong nhiều trường hợp, quan điểm quản lý của các Bộ, Ngành không được sự đồng tình ủng hộ của các DN. Với bài viết “Chính sách thúc đây OFDI - Xu hướng, kinh nghiệm thế gi và hàm ý cho Việt Nam” của tác giả Lê Xuân Sang, 2011, bài ét “QLNN đối với hoạt 8 động OFDI của Việt Nam” của TS. Phạm Thị Hồng Điệp, 2011 và bài viết “Một số giải pháp thúc day OFDI ở Việt Nam”, 2015 của Trần Nam Trung. Tác giả đã có những đánh giá khá toàn diện về những ưu điểm cũng như hạn chế của dòng vốn OFDI, đồng thời chỉ ra các giải pháp quản lý mang tính chất hỗ trợ cho hoạt động OFDI.
Các nghiên cứu trên đã đề cập về mặt lý luận và thực tiễn hoạt động quản lý của nhà nước trong lĩnh vực OFDI, nói chung chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu riêng về công tác QLNN đối với hoạt động OFDI của VN sang CPC. Những nội dung cần nghiên cứu bổ sung. Như vậy, điểm qua tình hình nghiên cứu về OFDI, có thể thấy, mặc dù có một vài nghiên cứu và quan điểm của các cá nhân, tổ chức về QLNN đối với hoạt động OFDI. Tuy nhiên, biện chưa có dé tài, công trình nghiên cứu nào nghiên cứu đến QLNN về OFDI của Việt Nam sang Campuchia một cách tong thể, phân tích trên các góc độ từ chính sách chung về vĩ mô, đến các chính sách cụ thể áp dụng trong lĩnh vực quản lý OFDI.
Đồng thời, không có một đề tài hoặc công trình nghiên cứu nào trùng lặp với nội dung và phạm vi nghiên cứu của Luận văn. Vì vậy, có thể khẳng định, dé tdi: “OLNN về OFDI của Việt Nam sang Campuehia ” là dé tài mới. Chính vi vậy, luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác QLNN đối với hoạt động OFDI của Việt Nam sang Campuchia giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2015, luận văn dé ra các giải pháp nhằm tăng cường công tác QLNN đối với hoạt động OFDI của Việt Nam sang Campuchia giai đoạn 2016 - 2020. Cơ sé lý luận và pháp lý về hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
Khái niệm về hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Theo WTO: “OFDI xuất hiện khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước tiếp nhận đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó”. Theo IMF đưa ra năm 1977. “OFDI là số vốn đầu tư được thực hiện dé thu được lợi ích lâu dai trong một DN hoạt động ở nên kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư.
Mục đích của nhà đầu tư là giành được tiếng nói có hiệu quả trong việc quản lý DN đó”. Khái niệm này nhấn mạnh động cơ đầu tư và phân biệt FDI với 9 đầu tư gián tiếp (Foreign Portfolio Investment). Trong đó, đầu tư gián tiếp có đặc trưng cơ bản là nhằm thu được lợi nhuận từ việc bán các tài sản, tài chính ở nước ngoài, nhưng nhà đầu tư không quan tâm đến quá trình quản lý DN. Trong khi đó với FDI, các nhà đầu tư vẫn giành quyền kiểm soát các quá trình quản lý.