Chương 1. Giới thiệu Chương 2. Cở sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây về các nhân tố quyết định sản lượng đầu ra Chương 3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Chương 4.
Kết quả và bàn luận Chương 5. Tổng kết, khuyến nghị, chỉ ra những mặt hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU Mục tiêu của chương này là trình bày tổng quan các nghiên cứu để cung cấp những nền tảng lý thuyết và thực nghiệm cho mô hình sẽ được kiểm định trong bài nghiên cứu. Chương này được chia thành 3 phần.
Đầu tiên, tổng quan lý thuyết kinh tế vĩ mô chuẩn tắc. Thứ hai, một số nghiên cứu trước đây về các nhân tố quyết định sản lượng đầu ra. Cuối cùng, dựa trên tổng quan các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm ở hai phần trên, khuôn khổ khái niệm sẽ được trình bày.1 Cơ sở lý thuyết kinh tế vĩ mô chuẩn tắc Đã có nhiều nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trong lĩnh vực kinh tế vĩ mô chuẩn nhằm giải quyết câu hỏi quan trọng về mối liên hệ nhân quả chính xác giữa những biến kinh tế vĩ mô như tổng sản phẩm quốc nội, cung tiền, tiến bộ công nghệ, lãi suất, mức giá cả, tỷ giá hối đoái, tiền lương, tỷ lệ thất nghiệp, dân số và tỷ lệ tiết kiệm. Có nhiều trường phái khác nhau, như những nhà kinh tế cổ điển, trường phái Keynes, trường phái tiền tệ, trường phái tân cổ điển, trường phái tân Keynes và thuyết tăng trưởng mới, đã cung cấp những giải thích khác nhau về mối quan hệ giữa các biến.
Trường phái cổ điển được hình thành cách đây hơn 200 năm bởi Adam Smith và Ricardo. Theo trường phái cổ điển, yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế là đất đai, lao động và vốn. Trong ba yếu tố trên thì đất đai là yếu tố quan trọng nhất, là giới hạn của sự tăng trưởng. Cụ thể, mô hình David Ricardo (1772 - 1823) với luận điểm cơ bản đất đai sản xuất nông nghiệp là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế.
Nhưng đất sản xuất lại có giới hạn do đó người sản xuất phải mở rộng diện tích trên đất xấu hơn để sản xuất, lợi nhuận của chủ đất thu được ngày càng giảm dẫn đến chí phí sản xuất lương thực, thực phẩm cao, giá bán hàng hóa nông phẩm tăng, tiền lương danh nghĩa tăng và lợi nhuận của nhà tư bản công nghiệp giảm. Mà lợi nhuận là nguồn tích lũy để mở rộng đầu tư dẫn đến tăng trưởng. Như vậy, do giới hạn đất nông nghiệp dẫn đến xu hướng giảm lợi nhuận 7 của cả người sản xuất nông nghiệp và công nghiệp và ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Nhưng thực tế mức tăng trưởng ngày càng tăng cho thấy mô hình này không giải thích được nguồn gốc của tăng trưởng.
Nhìn chung trường phái tân cổ điển cho rằng nguồn gốc của tăng trưởng tùy thuộc vào cách thức kết hợp hai yếu tố đầu vào vốn (K) và lao động (L), được đại diện bởi mô hình tăng trưởng của Harrod – Domar (1946) và mô hình tăng trưởng Solow (1956): Năm 1946, mô hình Harrod – Domar về tăng trưởng kinh tế được trình bày với giới học giả kinh tế. Đây là hai kết quả nghiên cứu độc lập của các nhà kinh tế Roy F. Giả thiết quan trọng của mô hình Harrod – Domar là coi sản lượng như một hàm của vốn tư bản (K). Mô hình Harrod – Domar mô tả quan hệ tăng trưởng kinh tế trong đó tốc độ tăng trưởng GDP tỷ lệ thuận với tỷ lệ tiết kiệm quốc gia và tỷ lệ nghịch với tỷ lệ Vốn – Sản lượng.
Theo mô hình này, với một mục tiêu tăng trưởng định trước và tỷ lệ Vốn – Sản lượng đã biết, sẽ tính được tỷ lệ tiết kiệm cần thiết trong nền kinh tế.Swan, nhà kinh tế theo trường phái tân cổ điển Robert Solow bổ sung thêm một nhân tố mới cho mô hình Harrod – Domar: năng suất lao động. Với công trình này, năm 1987, Solow được trao Giải thưởng Nobel về kinh tế. Giả định cơ bản của mô hình là tỷ suất sinh lợi là bất biến theo quy mô, năng suất biên của vốn giảm dần, được xác định ngoại sinh bởi tiến bộ kỹ thuật và có sự thay thế giữa vốn và lao động. Do đó, mô hình nhấn mạnh tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư là nhân tố chính xác định tăng trưởng kinh tế ngắn hạn.
Tiến bộ kỹ thuật, mặc dù quan trọng trong dài hạn, được xem như là ngoại sinh đến hệ thống kinh tế và do đó nó không được kiểm định đầy đủ bởi mô hình này. Mô hình này còn có cách gọi khác là mô hình tăng trưởng ngoại sinh, cuối cùng tăng trưởng của một nền kinh tế sẽ hội tụ về một tốc độ nhất định ở trạng thái bền 8 vững. Chỉ các yếu tố bên ngoài, đó là công nghệ và tốc độ tăng trưởng lao động mới thay đổi được tốc độ tăng trưởng kinh tế ở trạng thái bền vững. Mức sản lượng Y phụ thuộc vào lượng lao động L, lượng tư bản K và năng suất lao động A.
Từ đó, ta có một hàm sản xuất vĩ mô Y = F (A,L,K). Giả thiết là hàm này có dạng Cobb-Douglas, tức là: Trường phái Keynes tin tưởng cầu hiệu dụng đóng vai trò quan trọng trong xác định sản lượng đầu ra. Mặc dù vẫn xác nhận là cú sốc tiền tệ dương sẽ làm gia tăng các hoạt động kinh tế và mức giá, ông nhấn mạnh chính sách tài khóa quan trọng đối với nền kinh tế hơn là chính sách tiền tệ. Keynes đánh giá cao vai trò của tiêu dùng trong việc gia tăng sản lượng; Khi thu nhập tăng lên thì xu hướng tiết kiệm trung bình cũng tăng lên và xu hướng tiêu dùng trung bình sẽ giảm xuống kết quả là giảm cầu tiêu dùng.
Đây là nguyên nhân của trì trệ kinh tế. Mặt khác, đầu tư quyết định quy mô việc làm. Nhưng quy mô đầu tư lại phụ thuộc vào lãi suất cho vay và hiệu suất cận biên của vốn. Từ phân tích tổng quát, Keynes đi đến kết luận là muốn thoát khỏi khủng hoảng, thất nghiệp, nhà nước phải thực hiện điều tiết kinh tế bằng các chính sách nhằm kích thích và tăng cầu tiêu dùng.
Tác giả cũng đã đề xuất nhiều hình thức hoạt động để kích thích và tăng tổng cầu và việc làm. Do đó, lý thuyết này còn được gọi là lý thuyết trọng cầu. Trường phái tiền tệ cung cấp một cách giải thích khác là cung tiền là nhân tố cốt lõi trong xác định thu nhập quốc dân. Friedman & Schwartz (1971) nghiên cứu mối liên hệ giữa cung tiền và sản lượng đầu ra, và những ngụ ý cho sự ứng dụng hiệu quả chính sách tiền tệ tại Mỹ.
Họ ủng hộ Chính sách của Ngân hàng trung ương nhằm vào giữ cung và cầu tiền tại mức cân bằng để điều chỉnh cho tốc độ 9 tăng trưởng sản lượng và cầu khác nhau. Kết luận của họ là chính sách tiền tệ là hiệu quả, có thể giải thích và bù đắp cho những biến động trong sản lượng. Tựu chung, Keynes, trường phái tiền tệ và trường phái tân cổ điển có sự nhất trí là những biến động ngắn hạn xung quanh xu hướng dài hạn là do những sự kiện cầu danh nghĩa như những cú sốc tiền tệ, không phải những cú sốc cung thực như những đột phá về mặt công nghệ kỹ thuật. Tuy nhiên, Nelson & Plosser’s (1982) đã cố gắng giải thích liệu những biến động có thành phần dài hạn được tìm thấy là những nhân tố thực như cung lao động và tiến bộ công nghệ xác định cả sản lượng trong dài hạn và hoạt động như một nguyên nhân đáng kể của sự đổ vỡ của nền kinh tế.
Chú ý quan trọng là cung lao động là một con dao hai lưỡi về mặt chính sách để gia tăng GDP bình quân đầu người, vì tăng trưởng trong nhu cầu tiêu dùng của dân số và sự gia tăng trong lực lượng lao động để cung cấp cho những ai có nhu cầu lại có tương quan cao. Từ giữa những năm 1980, thuyết tăng trưởng “mới” và “nội sinh” đã nổi lên để chỉ trích mô hình tăng tưởng tân cổ điển. Theo quan điểm tân cổ điển, tốc độ tăng trưởng dài hạn là ngoại sinh, được giả định xác định bởi tỷ lệ tiết kiệm (Mô hình Harrod-Domar 1948, 1957) và tốc độ tiến bộ công nghệ, sự giảm giá và tăng trưởng dân số (Mô hình Solow, 1956). Do vậy, mô hình Solow (1956) đã giới thiệu khái niệm lao động hiệu dụng, tăng cường vốn (capital deepening) và mở rộng vốn (capital widening) 1.
Tuy nhiên, tỷ lệ tiết kiệm, tốc độ tăng trưởng dân số, và tỷ lệ tiến bộ công nghệ vẫn là ngoại sinh là không thể giải thích. Lý thuyết tăng tưởng nội sinh nhấn mạnh tăng tưởng kinh tế là kết quả từ sự gia tăng tỷ suất sinh lợi do kiến thức mới. Để khắc phục một phần vấn đề này, mô 1 Tăng cƣờng vốn – là tình huống ở đó vốn bình quân đầu công nhân tăng trong nền kinh tế. Mở rộng vốn – là tình huống ở đó tích lũy vốn tăng cùng tốc độ với lực lượng lao động và tỷ lệ khấu hao.
Do đó, vốn bình quân đầu công nhân vẫn không đổi. Nền kinh tế sẽ mở rộng về sản lượng gộp nhưng năng suất lao động của mỗi công nhân sẽ vẫn không đổi. 10 hình Hayami - Ruttan (1971) nội sinh hóa những thay đổi thể chế và kỹ thuật như là một phản ứng do những thay đổi trong nhân tố giá cả tương đối.2 Tổng quan các nghiên cứu về các nhân tố quyết định sản lƣợng đầu ra Nhận thức về việc xác định một mô hình kinh tế vĩ mô tổng quát có thể được sử dụng để giải thích tăng trưởng trong tất cả các nền kinh tế trên toàn thế giới. Nếu như vậy, thì hiểu mối quan hệ nhân quả giữa tổng sản phẩm quốc nội và những chỉ báo kinh tế vĩ mô, chính trị và xã hội trở thành một thách thức quan trọng cho những nhà kinh tế, những nhà nghiên cứu, và những nhà làm chính sách bởi vì những mối quan hệ như vậy vừa có thể chỉ ra chính sách phù hợp và đo lường tính hiệu quả của nó.