Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài, câu hỏi, mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Nội dung của chương này tập trung vào việc trình bày các quan niệm về FDI; đặc điểm của FDI; khái niệm TFP và một số yếu tố tác động đến TFP. Phân tích các kênh tác động lan tỏa của FDI đến TFP. Thống kê, phân tích một số nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài.
Từ cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước có liên quan, chương này để xuất mô hình nghiên cứu. Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài 2. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư là quá trình ứng ra một lượng vốn nhất định (bằng tiền mặt, tài sản) ở hiện tại với mục đích là làm tăng thêm giá trị trong tương lai cho chủ thể bỏ vốn (Đặng Thành Cương, 2012). Căn cứ vào quốc tịch chủ sở hữu vốn có thể phân ra thành đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài.
Đầu tư nước ngoài là một hình thức di chuyển vốn quốc tế, trong đó vốn (tiền mặt, thiết bị, công nghệ, kỹ năng quản lý, phát minh, sáng chế …) được đi chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác để thực hiện một hoặc một số dự án đầu tư nhằm đem lại lợi ích cho các bên tham gia (Đặng Thành Cương, 2012; Ngô Thu Hà, 2008). FDI là một trong những hình thức cơ bản của đầu tư nước ngoài1. Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về FDI, nhưng sự khác biệt giữa các định nghĩa không nhiều. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF, 1993), FDI là vốn đầu tư thực hiện để thu được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư.
Mục đích là giành được tiếng nói có hiệu quả trong quản lý doanh nghiệp đó. Khái niệm này đã nhấn mạnh đến tính lâu dài của quá trình đầu tư, chủ đầu tư là nước ngoài và việc đầu tư ở đây gắn liền với quyền kiểm soát quản lý. Đối với Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD, 2008), FDI phản ánh lợi ích lâu dài mà một thực thể trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) đạt được thông 1 Đầu tư nước ngoài có thể được chia thành 4 hình thức cơ bản: đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI – Foreign Portfolio Investment), tín dụng thương mại (Trade credit) và hỗ trợ phát triển chính thức (ODA - Official Development Assistance). 9 qua một cơ sở kinh tế tại một nền kinh tế khác với nền kinh tế thuộc nước của nhà đầu tư (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp).
Lợi ích lâu dài này thể hiện các mối quan hệ giữa nhà đầu tư và doanh nghiệp đầu tư trực tiếp, trong đó nhà đầu tư giành được sự ảnh hưởng quan trọng và có hiệu quả trong quản lý doanh nghiệp. Đầu tư trực tiếp bao hàm các giao dịch đầu tiên, tiếp đến là các giao dịch về vốn giữa hai thực thể được liên kết chặt chẽ. Trong đó, nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết, tức nắm quyền kiểm soát từ 10% vốn của một doanh nghiệp trở lên. Theo khái niệm này, có thể thấy động cơ chủ yếu của nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài là thông qua phần vốn được sử dụng ở nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoài giành quyền kiểm soát hoặc ảnh hưởng nhất định trong việc quản lý doanh nghiệp.
Đặc điểm mấu chốt của FDI là chủ định thực hiện quyền kiểm soát doanh nghiệp. Tuy nhiên, không phải tất cả các quốc gia sử dụng mức 10% để làm mốc xác định FDI. Do vậy, các thống kê về FDI do các tổ chức khác nhau đưa ra cũng có thể khác nhau. Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO, 1996) thì: “FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó”.
Quyền quản lý là căn cứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Khi đó, nhà đầu tư được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”. Theo Uỷ ban Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD, n.), FDI là một khoản đầu tư bao gồm mối quan hệ trong dài hạn, phản ánh lợi ích và quyền kiểm soát lâu dài của một thực thể thường trú ở một nền kinh tế (nhà đầu tư nước ngoài hay công ty mẹ nước ngoài) trong một doanh nghiệp thường trú ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh hoặc chi nhánh nước ngoài). Theo khái niện này thì FDI là một khoản đầu tư dài hạn và phản ánh lợi ích lâu dài từ sự kiểm soát của nhà đầu tư nước ngoài hoặc công ty mẹ đối với các doanh nghiệp của mình ở một nền kinh tế khác.
Theo Ngân hàng Thế Giới (WB; trích bởi Hồ Đắc Nghĩa, 2014), FDI là dòng đầu tư ròng vào một quốc gia để nhà đầu tư có được quyền quản lý lâu dài (nếu nắm được ít 10 nhất 10% cổ phiếu có quyền biểu quyết) trong một doanh nghiệp hoạt động trong một nền kinh tế khác (đối với chủ đầu tư). Theo Luật đầu tư của Việt Nam thì đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam (Quốc Hội Việt Nam, 2014). Cách tiếp cận của khái niệm này đứng trên quan điểm của nước tiếp nhận đầu tư (Việt Nam). Chủ yếu nhấn mạnh đến đối tượng của đầu tư mà nhà đầu tư nước ngoài mang vào để tiến hành hoạt động đầu tư.
Luật không đề cập đến đầu tư trực tiếp nước ngoài mà chỉ nêu khái niệm của đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý đầu tư. Như vậy, FDI được hiểu theo những cách khác nhau tuỳ theo cách tiếp cận của mỗi quốc gia và theo những góc độ khác nhau. Tuy nhiên, có thể thấy FDI là hoạt động đầu tư do các tổ chức kinh tế, cá nhân ở quốc gia nào đó bỏ vốn bằng tiền hoặc tài sản vào nước khác, tự mình hoặc kết hợp với các tổ chức kinh tế, cá nhân của nước kia tiến hành đầu tư dưới một hình thức nhất định. Các khái niệm đều nhấn mạnh đến phân chia quyền kiểm soát, điều hành và quyền sở hữu công ty của nhà đầu tư căn cứ vào tỷ lệ nắm giữ quyền kiểm soát và sở hữu vốn.
Điều đó phản ánh bản chất của FDI là nhằm mục đích tối đa hoá lợi ích đầu tư, hay tìm kiếm lợi nhuận ở nước tiếp nhận đầu tư, thông qua di chuyển vốn từ nước đi đầu tư đến nước tiếp nhận đầu tư. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài Từ định nghĩa của FDI và các hình thức đầu tư của FDI (phụ lục 1) có thể thấy FDI có những đặc điểm cơ bản như sau (Ngô Thu Hà, 2008; Đặng Thành Cương, 2012; Hồ Đắc Nghĩa, 2014): FDI là loại hình chu chuyển vốn quốc tế, chủ sở hữu vốn tiến hành hoạt động đầu tư ở nước ngoài, có nghĩa là DN tiếp nhận vốn FDI không phụ thuộc quốc gia của chủ đầu tư. Xét về xu thế và hiệu quả thì FDI thể hiện rõ sự chuyển biến về chất lượng trong nền kinh tế thế giới, gắn liền với quá trình sản xuất trực tiếp, tham gia vào phân công lao động quốc tế theo chiều sâu và tạo thành cơ sở cho hoạt động của các công ty xuyên quốc gia. 11 FDI là loại hình đầu tư trực tiếp do các nhà đầu tư tự quyết định đầu tư.
Nhà đầu tư nước ngoài có quyền điều hành doanh nghiệp tiếp nhận vốn, quyền này phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư vào vốn pháp định. Trong trường hợp góp 100% vốn pháp định thì nhà đầu tư có toàn quyền quyết định hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Thu nhập của chủ đầu tư phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh và lãi hoặc lỗ được phân chia giữa các chủ đầu tư theo tỷ lệ góp vốn của các bên. FDI là hình thức đầu tư mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, so với các loại hình đầu tư quốc tế khác, FDI ít chịu sự chi phối của Chính phủ hơn, đặc biệt ít phụ thuộc vào mối quan hệ chính trị giữa nước chủ nhà với nước đầu tư.
FDI là loại hình đầu tư trực tiếp dài hạn và được thực hiện qua nhiều hình thức đầu tư khác nhau. Do đó, FDI là một khoảng vốn dài hạn tương đối ổn định và không phải là vốn vay nên nước chủ nhà có được một nguồn vốn dài hạn bổ sung cho đầu tư trong nước và không phải lo trả nợ. Hơn nữa, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu mà còn có vốn bổ sung trong quá trình đầu tư của các bên nước ngoài. Vốn FDI không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư nước ngoài dưới hình thức vốn điều lệ hoặc vốn pháp định mà nó còn bao gồm cả vốn vay của các nhà đầu tư để triển khai và mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư được trích lại từ lợi nhuận sau thuế từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Vì vậy, nước tiếp nhận đầu tư phải có chính sách về tài chính phù hợp tránh trường hợp một số nhà đầu tư nước ngoài lợi dụng chỉ đưa một lượng vốn nhỏ vào còn sau đó tiến hành vay vốn tại nước tiếp nhận để thực hiện đầu tư, mở rộng kinh doanh làm ảnh hưởng đến mục đích thu hút đầu tư nước ngoài của nước tiếp nhận đầu tư. Các dự án FDI chịu sự chi phối của nhiều nguồn luật khác nhau, luật của từng bên tham gia đầu tư, luật quốc tế, luật khu vực, đặc biệt nhà đầu tư nước ngoài phải chấp hành luật pháp của nước tiếp nhận đầu tư. Để giải quyết mối quan hệ trong mọi giai đoạn của dự án FDI, thì các bên sử dụng nguyên tắc và phương châm “cùng có lợi”. 12 FDI là hình thức chuyển giao lớn về vốn, kỹ năng quản lý và phần lớn các dự án FDI đều gắn liền với quá trình chuyển giao công nghệ với nhiều hình thức và mức độ khác nhau.