Chương 1 : Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế tư nhân 1.1 Sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân 1.1 Sở hữu tư nhân "Sở hữu" là một phạm trù kinh tế vừa có tính chất xuất phát điểm vừa cơ bản của kinh tế chính trị học. Nếu chúng ta xem chiếm hữu là một hoạt động có tính tự nhiên của con người nhằm khai phá và chinh phục thiên nhiên rồi từ đó tạo ra được của cải vật chất. Thì sở hữu cũng chính là hình thức xã hội của chiếm hữu. Quan niệm của K.Marx về sở hữu (tư hữu) với tư cách là nội dung cơ bản, mang tính quyết định trong ba nội dung của quan hệ sản xuất.
Cụ thể theo ông quan niệm về sở hữu như sau: _ Sở hữu là một điều kiện của sản xuất, là nền móng của toàn bộ kết cấu xã hội, do đó, của mọi hình thái đặc thù nhất định của nhà nước; _ Quan hệ sở hữu biến đổi theo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; _ Quan hệ sở hữu quyết định quan hệ phân phối. Các quan điểm này được trình bày ở nhiều tác phẩm. Trong đó, có những tác phẩm viết riêng như “Tư bản”, “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844; có những tác phẩm viết chung với F. Engels như “Hệ tư tưởng Đức”, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”.
Bên cạnh đó, có những tác phẩm riêng của Engels, với các luận điểm biểu hiện lập trường kiên định đấu tranh bảo vệ Marx về vấn đề “xóa bỏ chế độ tư hữu”, như “Chống Đuy-rinh”, “Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản”… (Nguyễn An Ninh, 2015) Bên cạnh đó, dưới quan điểm của luật pháp, theo chương XII về "Nội dung quyền sở hữu" thuộc Bộ luật dân sự 2005. Nêu rõ về quyền sở hữu bao gồm: quyền chiếm hữu (quyền nắm giữ, quản lý tài sản); quyền sử dụng (quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản) và quyền định đoạt (quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó). Từ những quan điểm trên, chúng ta có thể hiểu phạm trù sở hữu qua cách diễn đạt như sau : 8 Sở hữu là quan hệ giữa người và người trong việc chiếm hữu của cải. Sự phát triển của các hình thức sở hữu là do sự phát triển của lực lượng sản xuất quy định.
Nội dung của sở hữu luôn được xét trên 2 mối quan hệ bao gồm: _ Quan hệ giữa chủ thể sở hữu với đối tượng sở hữu; _ Và quan hệ người với người trong quá trình sản xuất. Lịch sử xã hội loài người đã chứng kiến sự thay thế các hình thái kinh tế xã hội khác nhau. Tương ứng với đó là sự thay đổi các chế độ và hình thức sở hữu khác nhau. Với mỗi hình thái kinh tế xã hội sẽ có một hình thức sở hữu đặc trưng giữ vị trí thống trị.
Cho đến nay chủ nghĩa Marx - Lenin đã chỉ ra 5 hình thức sở hữu đặc trưng cho 5 hinh thái kinh tế xã hội từ thời nguyên thủy đến hiện tại bao gồm: _ Cộng sản nguyên thủy; _ Chiếm hữu nô lệ; _ Sở hữu phong kiến; _ Sở hữu tư bản; _ Và sở hữu cộng sản. Tất nhiên trong xã hội loại người không chỉ dừng lại với 5 hình thái sở hữu như vừa nêu trên. Mà theo thời gian còn sẽ xuất hiện thêm nhiều hình thái sở hữu khác. Trước mắt chúng ta đã có thể bắt gặp được sự pha trộn kết hợp về sở hữu chẳng hạn như : sở hữu hỗn hợp tồn tại trong hiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau.
Như vậy ta có thể kết luận rằng các hình thái sở hữu luôn vận động, phát triển và không cố định ở một con số nào đó. Bất kể đó là một hình thái sở hữu hoàn toàn mới hoặc chỉ đơn thuần là sự pha trộn - kết hợp của những hình thái sở hữu đã từng xuất hiện trong quá khứ. Trong giai đoạn trước "Đổi mới", chúng ta từng coi việc xác lập chế độ công hữu là mục tiêu. Dẫn đến việc nóng vội trong việc xóa bỏ đi tư hữu, đẩy mạnh sự phát triển của công hữu để sớm có CNXH.
Qua những hành động mang tính chất vội vã như dồn tất cả ruộng đất vào hợp tác xã, quốc hữu hóa toàn bộ xí nghiệp, biến từng địa phương thành một pháo đài riêng rẽ. Cuối cùng khiến cho nền kinh tế bị rơi vào tình trạng "ngăn sông cấm chợ", đình đốn trì trệ trong suốt một thời gian 9 dài. Trong những năm gần đây lại xuất hiện quan điểm coi sở hữu chỉ là phương tiện. Thực tiễn những năm đổi mới vừa qua đã cho thấy cả 2 quan niệm trên đều chưa đúng, chưa đầy đủ và mang tính phiến diện rất cao.
Vì thế để trung hòa, quan điểm trong giai đoạn hiện tại của Đảng CSVN (1991, trang 79) về sở hữu là: "Coi sở hữu vừa là mục tiêu vừa là phương tiện. Vì sở hữu nói riêng và quan hệ sản xuất nói chung không chỉ đơn giản như phương tiện thông thường mà có thể thay đổi từ phương tiện này sang phương tiện khác. Là một bộ phận cấu thành hữu cơ của một hình thái kinh tế xã hội nhất định. CNXH có những đặc trưng riêng về sở hữu, những quan hệ sản xuất và phân phối nảy sinh từ chế độ sở hữu đó".
Ngày nay phần lớn các quan điểm đều cho rằng mặc dù có những biểu hiện rất đa dạng và phong phú. Nhưng tựu chung lại trên thực tế chỉ tồn tại ba hình thức sở hữu cơ bản là: _ Sở hữu nhà nước; _ Sở hữu tư nhân; _ và sở hữu hỗn hợp. Ở Việt Nam , trong văn kiện đại hội lần X của Đảng CSVN (2006, trang 83) cũng đã xác định : “Trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân), hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế gồm: _ Kinh tế nhà nước; _ Kinh tế tập thể; _ Kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân); _ Kinh tế tư bản nhà nước; _ Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.” Nhận ra được sự đa dạng, phong phú của sở hữu và tìm ra phương pháp ứng dụng chúng vào cuộc sống chính là đòn bẩy quan trọng để mở đường thúc đẩy sản xuất đi lên từ đó đưa nền kinh tế phát triển. Hướng đến việc giải phóng mọi năng lực sản xuất, chính là hướng đến việc phát triển lực lượng sản xuất và không ngừng nâng cao đời sống của người dân.
Đây mới chính là "bản chất của sở hữu trong CNXH". Trong công cuộc đổi mới hiện nay, 10 việc nhận thức sở hữu theo phương thức tư duy mới, chính là điểm mấu chốt quan trọng để phát huy bản chất, vai trò động lực của sở hữu trong quá trình xây dựng CNXH (Nguyễn Thanh Tuyền, 2006) Đứng trên góc độ về luật pháp, theo điều 211 bộ luật dân sự năm 2005 thì "Sở hữu tư nhân" là sở hữu cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình. Sở hữu tư nhân bao gồm: sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ và sở hữu tư bản tư nhân. Như vậy, theo quan điểm vừa nêu trên thì "Sở hữu tư nhân" sẽ được hiểu là: "Sở hữu các tư liệu tiêu dùng cá nhân thường được coi là sở hữu cá nhân và sở hữu tư liệu sản xuất thường được hiểu là sở hữu tư nhân." Tóm lại chúng ta thấy rằng "Sở hữu tư nhân" là quan hệ sở hữu xác nhận quyền hợp pháp của tư nhân trong việc chiếm hữu, quyết định cách thức tổ chức sản xuất kinh doanh, chi phối và hưởng lợi từ kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh.2 Kinh tế tư nhân Ở Việt Nam hiện tại có nhiều cách thức khác nhau để hiểu về KTTN chẳng hạn như: _ Theo nghĩa rộng: Khu vực KTTN là khu vực dân doanh bao gồm các doanh nghiệp của tư nhân trong nước, kể cả các HTX nông nghiệp, các doanh nghiệp phi nông nghiệp và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dưới hình thức liên doanh 100% vốn.
Với cách hiều này sẽ đánh giá tương đối chính xác tiềm năng của khu vực KTTN, tuy nhiên thường gặp khó khăn khi thống kê, khi không phân biệt được phần góp vốn của nhà nước trong các liên doanh cũng như công ty cổ phần mà nhà nước góp vốn. _ Theo nghĩa hẹp: Khu vực KTTN là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nhưng không bao gồm khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Như vậy số liệu thống kê theo cách phân loại này thì khi phân chia nền kinh tế thành ba khu vực gồm có "doanh nghiệp quốc doanh", "doanh nghiệp ngoài quốc doanh" và "doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài". 11 Ngoài ra còn có quan điểm cho rằng KTTN là kinh tế ngoài quốc doanh nhưng không bao gồm kinh tế tập thể.
Theo Ban tư tưởng văn hóa Trung ương (2002, trang 24), quan điểm của Đảng về KTTN được đưa ra trong hội nghị lần 5 khóa IX vào tháng 3/2002: "KTTN bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân". Quan điểm về KTTN tiếp tục được nêu ra trong văn kiện đại hội X, xác định kinh tế nước ta cùng lúc tồn tại nhiều hình thức sở hữu trên cơ sở tồn tại nhiều thành phần kinh tế : KTNN, Kinh tế tập thể ; KTTN ( bao gồm cá thể hộ tiểu chủ và tư bản tư nhân ), Kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (Đảng CSVN, 2006). Từ những cách hiểu trên và sự tiếp cần hiểu trên và sự tiếp cận quan điểm của Đảng về KTTN có thể đi đến một nhận thức về KTTN như sau: "KTTN là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể vác các loại hình doanh nghiệp của tư nhân." Các loại hình kinh doanh của KTTN đều có điểm chung là dựa trên sở hữu tư nhân nhưng có sự khác nhau về trình độ sản xuất kinh doanh.