Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế tư nhân; Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn huyện N am 4 Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế; Chương 3: Giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn huyện N am Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế. 5 PHẦ II: ỘI DU G GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: CƠ SỞ LÝ LUẬ VÀ THỰC TIỄ VỀ PHÁT TRIỂ KI H TẾ TƯ HÂ 1. Cơ sở lý luận về kinh tế tư nhân và phát triển kinh tế tư nhân 1. Một số khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm kinh tế tư nhân Có nhiều cách tiếp cận đối với kinh tế tư nhân, thông thường có 2 cách tiếp cận chủ yếu: Kinh tế tư nhân là một thành phần kinh tế và kinh tế tư nhân là một khu vực kinh tế. Điểm tương đồng giữa hai cách tiếp cận là về bản chất, kinh tế tư nhân đại diện cho sở hữu tư nhân nhưng sẽ dẫn đến sự không thống nhất. Ở các quốc gia phát triển thì mọi hoạt động kinh tế không thuộc khu vực kinh tế nhà nước thì đều được coi là khu vực kinh tế tư nhân, còn ở Việt N am KTTN được hiểu như sau: Khu vực kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế bao gồm những đơn vị được tổ chức dựa trên sở hữu tư nhân. Kinh tế tư nhân là một loại hình kinh tế phát triển dựa trên sở hữu tư nhân về toàn bộ các yếu tố sản xuất (cả hữu hình và vô hình) được đưa vào sản xuất kinh doanh.
N ó hoàn toàn tự chủ, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động SXKD, dịch vụ, cụ thể là: tự chủ về vốn, tự chủ về quản lý, tự chủ về phân phối sản phN m, tự chủ lựa chọn hình thức tổ chức, quy mô, phương hướng SXKD, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trước pháp luật của N hà nước. [4] N ghị quyết Trung ương 5 (khóa XII) về tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân đã đã xác định khu vực KTTN bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân. Đó là “là một khu vực kinh tế, là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân và việc phát triển kinh tế tư nhân được coi là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng trong thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế” [13]. 6 Trên cơ sở cách tiếp cận trên, có thể hiểu KTTN là khu vực kinh tế gắn liền với sở hữu tư nhân, bao gồm: DN TN , Công ty TN HH (một thành viên; 2 thành viên trở lên), Công ty cổ phần và hộ kinh doanh cá thể.
Khái niệm phát triển kinh tế tư nhân Phát triển KTTN là quá trình tăng lên về quy mô và có sự thay đổi về cơ cấu dẫn tới tăng lên cả về chất và lượng của khu vực kinh tế tư nhân. Tăng lên về số lượng nghĩa là ở đó có sự tăng trưởng về số lượng các doanh nghiêp, quy mô doanh nghiệp được mở rộng, lao động tăng lên, mặt bằng sản xuất kinh doanh được mở rộng, máy móc thiết bị được đầu tư. Tăng lên về chất là tăng về hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, trình độ quản lý được nâng lên, trình độ sản xuất kinh doanh phát triển lên một bước mới, thị trường không ngừng được mở rộng, giá trị đóng góp cho nền kinh tế của khu vực KTTN ngày càng tăng lên. Thay đổi về cơ cấu trong lao động, cơ cấu ngành nghề kinh doanh, cơ cấu vốn [8].
Đặc điểm của kinh tế tư nhân KTT gắn liền với lợi ích cá nhân-là động lực để thúc đ.y xã hội phát triển Lợi ích cá nhân là động lực trước hết để phát triển xã hội. KTTN là khu vực kinh tế năng động, người lao động tự chủ tiến hành hoạt động kinh doanh, do đó hoạt động có hiệu quả cao. Sức mạnh động lực của lợi ích cá nhân bao giờ cũng mãnh liệt hơn bởi không chỉ bản thân nó là một sự thôi thúc hành động mà nó còn luôn luôn chịu sự thúc ép gay gắt từ phía nhu cầu chưa được thỏa mãn. N ói cách khác, với ý nghĩa là động lực thúc đN y sự hoạt động của con người, lợi ích cá nhân bao hàm trong nó cả lực thúc đN y của các nhu cầu của chủ thể.
Do vậy, nó luôn luôn biểu hiện là một động lực mạnh mẽ nhất, hơn thế, do hướng vào các quan hệ xã hội nên khi đạt được những lợi ích cụ thể, chủ thể thường có điều kiện thuận lợi và hiện thực hơn trong việc thỏa mãn không chỉ một nhu cầu cụ thể mà có khi lại có cơ hội thỏa mãn nhiều nhu cầu của họ. Đến đây ta có thể nêu sơ đồ tóm lược chuỗi quy định nhân quả dẫn dắt sự hoạt động của con người. 7 Từ chỗ là động lực quyết định sự hoạt động của từng cá nhân riêng lẻ, lợi ích trở thành động lực thúc đN y sự hoạt động của các nhóm, các tập đoàn và các cộng đồng xã hội, tạo nên các xu hướng vận động chung của xã hội. Và từ chỗ là động lực thúc đN y các nhóm, các tập đoàn, các cộng đồng người hoạt động, lợi ích kinh tế của cá nhân đã trở thành một trong những động lực căn bản quyết định sự vận động và phát triển chung của cả một xã hội.
Do đó, muốn nhận biết xu hướng vận động của một cộng đồng cụ thể nói riêng và của cả một xã hội nói chung trong một thời điểm lịch sử nhất định thì có lẽ cách tốt nhất là phải nghiên cứu tìm ra các lợi ích đang thôi thúc các cá nhân cũng như các cộng đồng đang hoạt động. Engels đã từng khẳng định “ Vậy, nếu vấn đề là nghiên cứu những động lực-một cách có ý thức hay không có ý thức và thường là không có ý thức-N n sau những động cơ của những nhân vật hoạt động trong lịch sử và là những động lực thực tế cuối cùng của lịch sử thì vấn đề không phải là nghiên cứu những động cơ của các cá nhân riêng lẻ, dù đó là những cá nhân xuất sắc đi nữa, mà vấn đề là nghiên cứu những động cơ của những người đã lay chuyển những quần chúng đông đảo, những dân tộc trọn vẹn; rồi đến những giai cấp trọn vẹn trong mỗi dân tộc ; những động cơ đã đN y họ không phải đến chỗ tiến hành những cuộc nổi dậy, nhất thời theo kiểu lửa rơm chóng tắt, mà đến chỗ tiến hành những hành động lâu dài đưa đến những biến đổi lịch sử vĩ đại. N ghiên cứu kỹ những nguyên nhân thúc đN y đã phản ánh, ở đây, trong đầu óc của quần chúng đang hoạt động và của lãnh tụ của họ – tức là những người mà ta gọi là vĩ nhân, với tư cách là động cơ tự giác, phản ánh một cách rõ ràng hay không rõ ràng, trực tiếp hay dưới hình thức tư tưởng, thậm chí cả dưới hình thức thần thánh hóa, đó là con đường duy nhất có thể dẫn tới chỗ nhận thức được các quy luật chi phối lịch sử nói chung, cũng như chi phối trong các thời kỳ riêng biệt của lịch sử hay trong các nước riêng biệt” [2]. Đây cũng chính là con đường nhận thức các quy luật phát triển xã hộị Kinh tế tư nhân là nền tảng của kinh tế thị trường Kinh tế thị trường là cách thức tốt nhất và duy nhất để một nền kinh tế vận hành có hiệu quả.
Kinh tế thị trường là phương tiện để đạt đến nền sản xuất lớn, 8 hiện đại và hiệu quả và cơ chế thị trường hiện đại là môi trường để KTTN phát triển. KTTN mà điển hình là mô hình tổ chức doanh nghiệp là sản phN m tự nhiên của kinh tế thị trường, và tự lớn lên trong kinh tế thị trường. KTTN ở nước ta được khôi phục từ sau công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, trong điều kiện nền kinh tế chậm phát triển, quan hệ sản xuất thống trị xã hội không phải là quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Do vây, KTTN ở nước ta có một số đặc điểm riêng biệt khác nữa so với các nước trên thế giới: - KTTN ở nước ta là kết quả của chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, là bộ phận của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Phát triển KTTN nhằm mục đích phục vụ cho công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Do đó, về mặt bản chất, nó khác với KTTN ở các nước tư bản chủ nghĩa. - KTTN ở nước ta mang trong mình yếu tố có tính XHCN. Điều này thể hiện ở chỗ: KTTN đại diện cho một lực lượng sản xuất mới góp phần giải phóng LLSX, thức đN y tăng trưởng xã hội, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo… - Các doanh nghiệp tư nhân thông qua hoạt động của mình củng cố, tăng cường khối đoàn kết dân tộc, gắn kết các giai tầng xã hội vì mục tiêu dân giàu, nươc mạnh, xã họi công bằng, văn minh.
- Mối quan hệ trực tiếp giữa các chủ doanh nghiệp tư nhân với người lao động doanh nghiệp không còn là quan hệ đối kháng, chủ - thợ, quan hệ giữa một bên là chủ sở hữu tư liệu sản xuất, một bên là người bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất mà là mối quan hệ hợp tác. Phân loại kinh tế tư nhân Doanh nghiệp tư nhân Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp [18]. Về quản lý doanh nghiệp tại điều 185 Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định: - Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực 9 hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật. - Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh.
Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lý doanh nghiệp thì vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.