CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NSNN CẤP HUYỆN 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trong những năm gần đây, ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến quản lý chi NSNN chi NSNN cấp huyện. Đề tài cũng đã khái quát tình hình KT-XH của huyện Sơn Tây, phân tích thực trạng quản lý chi thường xuyên NSNN cấp huyện tại huyện, từ đó đưa ra giải pháp để hoàn thiện quản lý chi thường xuyên NSNN cấp huyện tại huyện Sơn Tây. Tuy nhiên, trong đề tài này tác giả chủ yếu đi sâu vào đánh giá thực trạng chi thường xuyên ngân sách cấp huyện tại huyện Sơn Tây, một địa bàn có nhiều lợi thế về du lịch và dịch vụ.
Tương tự, đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN tại Sở Tài chính tỉnh Đăknông” của tác giả Phan Thị Mỹ Hằng (Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội, năm 2013) cũng đã đề cập đến các nội dung về quản lý chi thường xuyên của ngân sách cấp tỉnh ở một địa bàn có nhiều nét đặc thù cả về mặt địa lý, cơ cấu dân cư và các chế độ chính sách ưu đãi của nhà nước. Đối với đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý NSNN huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi” của tác giả Huỳnh Thị Cẩm Liên (Đại học Đà nẵng, năm 2011) cũng đã xây dựng được mô hình khung lý thuyết về quản lý NSNN cấp huyện, tổng hợp đánh giá thực trạng quản lý thu, chi NSNN cấp huyện tại huyện Đức Phổ. Tuy nhiên các giải pháp hoàn thiện tác giả đưa ra còn mang tính chất chung chung. Ở một khía cạnh khác của công tác quản lý chi NSNN, tác giả Đào Hoàng Liên với nghiên cứu “ Hoàn thiện công tác kiểm soát chi NSNN tỉnh Quảng Bình” (Đại học Đà Nẵng, năm 2010) đã đi sâu tìm hiểu công tác kiểm soát chi NSNN tại KBNN tỉnh Quảng Bình trong điều kiện thực hiện đổi mới, cải cách tài chính công.
Tác giả cũng đã khẳng định việc tăng cường kiểm soát chi ngân sách sẽ góp phần sử dụng nguồn lực tài chính hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị sử dụng NSNN. Tuy nhiên các giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi NSNN chủ yếu được sử 6 dụng trong nội bộ KBNN tỉnh Quảng Bình. Cũng trong phạm vi kiểm soát chi tại KBNN, tác giả Trần Thị Hành (Đại học Thăng Long, 2015) với nghiên cứu “ Tăng cường kiểm soát chi NSNN huyện tại KBNN Đan Phượng, Hà Nội” cũng đã đề cập đến các nội dung quản lý chi NSNN nhưng trong phạm vị hẹp là các khoản chi tại cơ quan đơn vị HCSN và nghiệp vụ riêng của KBNN cấp huyện. Tại tỉnh Quảng Trị, có thể kể đến một số đề tài nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực quản lý thu chi NSNN như đề tài “Hoàn thiện quản lý chi NSNN cho ngành GD & ĐT tại thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị” của tác giả Hoàng Đình Thừa (Đại học Tài chính – Marketting, năm 2015); đề tài “Hoàn thiện công tác thu chi NSNN trên địa bàn huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị” của tác giả Lê Minh Tiến (Đại học Tài chính – Marketting, năm 2015); Nghiên cứu “ Hoàn thiện quy trình chi thường xuyên NSNN đối với đơn vị dự toán trong điều kiện áp dụng TABMIS tại tỉnh Quảng Trị” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương (Đại học Tài chính – Maketting, năm 2015); Nghiên cứu “ Các nhân tố ảnh hưởng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN trên địa bàn huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị” của tác giả Văn Ngọc Lãm (Đại học Tài chính – Maketting, năm 2015)… Nhìn chung các đề tài nghiên cứu trên đã tập trung làm rõ các khái niệm quản lý thu, chi NSNN trong đó có ngân sách cấp huyện; đánh giá thực trạng quản lý ngân sách ở các địa phương, đơn vị và đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý NSNN phù hợp với tình hình thực tế của địa bàn nghiên cứu.
Tuy nhiên, các công trình, đề tài trên vẫn chưa làm rõ được đặc điểm cũng như mối quan hệ trong quản lý chi NSNN cấp huyện, nhất là trong điều kiện ngành Tài chính đang áp dụng rộng rãihệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc trong quản lý, điều hành thu chi ngân sách. Trong quá trình nghiên cứu, ngoài Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn thi hành, tác giả đã nghiên cứu, tham khảo các quy định về hướng dẫn xây dựng dự toán, tổ chức thực hiện và quyết toán ngân sách hàng năm cũng như các bài viết của các nhà khoa học về lĩnh vực quản lý thu chi NSNN trên các báo, tạp chí, website. Tác giả đã kế thừa và phát huy chọn lọc các lý thuyết được nghiên cứu tổng hợp trong các đề tài nhằm làm rõ thực trạng công tác quản lý chi NSNN cấp huyện nói chung, 7 huyện Hải Lăng nói riêng, từ đó đề xuất những giải pháp để làm tốt hơn công tác quản lý chi NSNN trên địa bàn trong giai đoạn hiện nay cũng như các năm tiếp theo.Tổng quan về NSNN và chi NSNN 1. Khái niệm NSNN Hiện nay trong các tài liệu nghiên cứu, có rất nhiều quan niệm về NSNN do các cách tiếp cận khác nhau.
Trong đạo luật của các nước XHCN, NSNN được định nghĩa là kế hoạch tài chính cơ bản để lập và sử dụng quỹ tiền tệ của nhà nước. Ở nước ta, theo từ điển Tiếng Việt thông dụng, Ngân sách được định nghĩa là tổng số thu và chi của một đơn vị trong một thời gian nhất định. Tại điều lệ lập, chấp hành NSNN ban hành kèm theo Nghị định số 168/CP ngày 20/10/1961 của Chính phủ quy định “NSNN là kế hoạch tài chính cơ bản nhằm lập và sử dụng quỹ tiền tệ của nhà nước”. Điều 1 của Luật ngân sách Nhà nước số 01/2002/QH11 thì ghi rõ: "NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước".
Đến năm 2015, Quốc hội khóa 13 đã thông qua Luật Ngân sách số 83/2015/QH13 thay thế cho Luật Ngân sách số 01/2002/QH11. Tại khoản 14, điều 4 của Luật ngân sách 2015, Ngân sách nhà nước được định nghĩa: “ NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Biểu hiện ra bên ngoài của NSNN chính là những nguồn thu, nhiệm vụ chi cụ thể, được định lượng từ trước nhằm đảm bảo cho việc thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước. Tất cả các khoản thu đó đều được nộp vào một quỹ tiền tệ chung và các khoản chi cũng xuất ra từ quỹ tiền tệ ấy và phải đảm bảo yêu cầu cân đối ngân sách.
Về thực chất bên trong, quá trình tạo lập, quản lý và sử dụng quỹ NSNN đã phản ánh những quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội. Do được tiến hành trên hầu khắp các lĩnh vực nên hoạt động thu, chi NSNN có tác động đến mọi chủ thể kinh tế xã hội. Dưới hình thức thuế và các hình thức thu khác, Nhà nước đã tập trung vào NSNN các nguồn tài chính, đồng thời trực tiếp nắm giữ 8 và chi phối toàn bộ các nguồn tài chính trong NSNN của chính quyền nhà nước các cấp. Như vậy thông qua việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung, Nhà nước đã chuyển dịch một bộ phận thu nhập bằng tiền của các chủ thể thành thu nhập của Nhà nước và chuyển dịch thu nhập đó đến các chủ thể được thụ hưởng qua việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà Nước.
Từ sự phân tích biểu hiện bên ngoài và thực chất bên trong của NSNN, ta có thể đưa ra quan niệm chung về NSNN như sau:NSNN là một bảng dự toán thu chi bằng tiền của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. Về thực chất, có thể hiểu NSNN là kế hoạch tài chính vĩ mô và là khâu tài chính chủ đạo của hệ thống tài chính nhà nước, được Nhà nước sử dụng để phân phối một bộ phận của cải xã hội dưới hình thức giá trị nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Tất cả các khoản thu chi trong quỹ của NSNN không giống bất cứ các quỹ tiền tệ nào. Phần lớn các khoản thu là bắt buộc, còn các khoản chi lại có tính chất không hoàn lại.
Chức năng và vai trò của NSNN 1. Chức năng - Chức năng phân phối: NSNN thể hiện chức năng này thông qua quá trình tạo lập và sử dụng. Như chúng ta đã nghiên cứu ở phần khái niệm, bất kỳ một Nhà nước nào, để thực hiện nhiệm vụ của mình, đều phải tạo lập các nguồn lực tài chính thông qua việc tập hợp các khoản thu theo luật định (bao gồm thu thuế, phí và lệ phí, thu khác ngân sách…). Từ nguồn quỹ này, Nhà nước sử dụng để thực hiện các khoản chi tiêu phục vụ các hoạt động quản lý Nhà nước, các nhiệm vụ văn hóa xã hội, đảm bảo nhiệm vụ AN-QP, chi cho đầu tư phát triển v.; Thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ trên, NSNN đã chuyển dịch một phần thu nhập của chủ thể này sang chủ thể khác.
- Chức năng giám đốc: Chức năng này của NSNN thể hiện thông qua việc kiểm tra, giám sát quá trình huy động các khoản thu và thực hiện các khoản chi. Việc kiểm tra, giám sát quá trình động viên các nguồn thu nhằm chống tình trạng trốn lậu thuế, chây ỳ nộp thuế của các đối tượng thực hiện nghĩa vụ nộp NSNN 9 đồng thời ngăn chặn tình trạng lạm dụng, làm trái pháp luật và áp dụng các chính sách động viên khác ngoài quy định. Trong khâu cấp phát NSNN, nếu buông lỏng công tác kiểm tra, kiểm soát chi thì dễ dẫn đến tình trạng thực hiện các khoản chi NSNN sai luật định và không đúng các chế độ, định mức chi hiện hành. Thông qua công tác kiểm tra, kiểm soát hoạt động thu chi NSNN để giúp các đơn vị có thẩm quyền đánh giá tình hình chấp hành các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước trong quản lý NSNN đồng thời xem xét hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của nguồn vốn NSNN, hiệu quả thực tế của các chủ trương, chính sách, chế độ do Đảng và Nhà nước đề ra.