CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN CAM HÀNG HÓA 1. Lý luận cơ bản về sản xuất cam 1. Đặc điểm sinh học và yêu cầu ngoại cảnh Nguồn gốc phân loại Nguồn gốc xuất xứ của cây cam đến nay vẫn còn nhiều bàn cải. Tuy nhiên, các nghiên cứu đều khẳng định cam có nguồn gốc từ Châu Á và hiện nay được trồng nhiều ở Thái Lan, Việt Nam, Miền Nam Trung Quốc, Malaysia, Ấn Độ.
Cam có tên khoa học là Citrus Sinensic thuộc họ cam quýt (Rutaceae). Cam thuộc nhóm cây thân gỗ cao to, là cây ăn quả có giá trị cao nhất so với các loại cây ăn quả khác, được nhân giống chủ yếu bằng phương pháp chiết, ghép. Đặc điểm sinh học Rễ: Cây trồng bằng hạt có một rễ cái và nhiều rễ nhánh, trong điều kiện thuận lợi sẽ có thể mọc sâu hơn 4m, nhưng tập trung chủ yếu ở độ sâu 0 – 40cm. Nếu trồng bằng cành cùi hoặc cành giâm thì có rễ chùm, không có rễ cọc.
Khi rễ hoạt động mạnh thì thân cành hoạt động yếu lại. - Thân cành: Cam thuộc loại thân gỗ cao, trong 1 năm có thể cho 3-4 đọt cành. Cành cho trái thường ra trong mùa xuân và thường mọc từ cành mẹ. Cành mẹ là cành tạo ra các cành cho trái, thường phát triển trong mùa hè hoặc mùa thu.
- Chiều cao cây: Cam 4 – 5 tuổi có chiều cao trung bình 2,46m; từ 6 – 15 tuổi: 4,66m. - Tán cây: Đa số là hình bán cầu, có tốc độ phân cành lớn. Tuỳ theo độ tuổi (như trên) đường kính tán cây tương ứng là 2,29m ÷ 4,65 m. - Lá: Thuộc loại lá đơn có dạng hình trứng ngược, mép lá có hình gợn sóng, đuôi lá chẻ hơi lõm xuống phía nút.
- Hoa: Có màu trắng, mùi thơm hấp dẫn, là loại hoa lưỡng tính mọc thành chùm thường ra vào mùa xuân (hoa trái vụ đậu quả thấp, phẩm chất kém). Cam là giống có khả năng ra hoa lớn nhưng tỷ lệ đậu quả rất thấp và phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngoại cảnh và giống. 4 - Quả: Có dạng hình cầu hơi khuyết, gồm 3 phần: Ngoài, trong, nội quả. Võ quả nhẵn, khi chín có màu xanh vàng sáng; có vị ngọt và chua nhẹ.
Kỹ thuật trồng và thâm canh Cam Đối với thời kỳ trồng mới - Cam là cây ăn quả lâu năm, từ khi trồng đến khi thu hoạch (kinh doanh) phải trải qua thời kỳ trồng mới (kiến thiết cơ bản) để hình thành vườn cây lâu năm từ 4 đến 5 năm. Trong thời kỳ này cần thực hiện các công việc: - Chọn và nhân giống: Có 2 phương pháp nhân giống. Nhân giống lưỡng tính bằng hạt (chỉ sử dụng làm gốc ghép hoặc lai tạo giống). Nhân giống vô tính là phương pháp chiết, ghép được sử dụng rộng rãi và có nhiều ưu điểm.
- Chuẩn bị đất trồng: Đào hố trước khi trồng 4 – 5 tháng (khoảng tháng 7 – 8 dương lịch); kích thước hố 60.60cm; khoảng cách cây 4m x 5m. Mỗi hố bón lót 50 – 100kg phân chuồng; 1 – 1,5kg phân lân nung chảy; 0,5 – 1kg vôi, trộn đều với đất cho đầy hố. - Cách trồng: chọn bầu giống bánh tẻ phát triển tốt, đào hố nhỏ vừa đặt bầu cây, xé bầu, căm cọc giú bầu lấp đất chặt. Sau khi trồng nên tưới cho đẫm dùng rơm rạ hoặc cỏ khô che tủ.
Các hố trồng cần đắp bờ cao để tránh ngập úng. Những vùng trũng cần đào mương quanh vườn cây để thoát nước. - Chăm sóc: Cây từ 1 – 5 tuổi hàng năm bón thúc từ 1 – 3kg NPK; 0,5kg super lân; tưới nước vào mùa nắng, tiêu nước vào mùa mưa và làm cỏ, kết hợp với phòng trừ sâu và dịch bệnh. - Tạo hình tĩa tán: Cây sau khi trồng đã phát triển cần được tạo hình làm cho cây có bộ khung cành vững chắc, cân đối, to lớn.
Việc tạo hình phải tiến hành liên tục để hoàn thành trong thời gian 2 – 3 năm đầu. Đối với thời kỳ kinh doanh (thu hoạch) Sau khi trồng 4 – 5 năm, cây Cam bắt đầu cho quả bước vào thời kỳ kinh doanh (thu hoạch), thời kỳ này kéo dài từ 10 ÷ 15 năm tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng vườn cây. Trong thời kỳ thu hoạch cần thực hiện tốt các biện pháp: 5 a. Bón phân: Cây từ sau năm thứ 5 trở đi, bón phân 4 lần trong một năm theo tán cây: lần 1 (sau khi thu hoạch) bón 10kg phân chuồng kèm 1/3 lượng NPK và 0,5 ÷ 1kg super lân; lần 2 (trước khi ra hoa 1 tháng) bón 1/3 lượng NPK; lần 3 (sau đậu trái 1 tháng) bón 1/3 lượng NPK theo quy định (cây 4 – 6 tuổi hàng năm bón 4–7kg NPK, cây 7 – 9 tuổi và nhiều hơn bón 8 – 15kg NPK); lần 4, trước khi thu hoạch 1 – 2 tháng bón 1 – 2kg Kali.
Chăm sóc: Làm sạch cỏ, thăm vườn thường xuyên tĩa bỏ các cành vượt, cành sâu bệnh; tưới nước khi nắng gắt, thoát nước khi bị úng; tĩa bớt hoa và quả nếu ra quá nhiều. Phòng trừ sâu và dịch bệnh: Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo hướng dẫn để phòng các loại sâu bệnh chủ yếu đối với cây Cam: bệnh thối gốc, chảy mũ do nấm; bệnh loét lan nhanh do sâu vẽ bùa; sâu vẽ bùa: nâu ăn lá thường đi chung với bệnh loét gây nên; bọ xít xanh hại quả; sâu đục thân. Thu hoạch: Khi võ Cam chuyển từ xanh sang vàng láng bóng thì thu hoạch, thời gian tốt nhất từ 8h sáng đến 15h chiều vào ngày khô ráo. Khi thu hoạch tránh xây xát quả.
Bảo quản sau thu hoạch: giữ quả nơi râm mát; có thể dùng các hoá chất theo hướng dẫn để xử lý và bảo quản quả trong thời gian dài (có thể trong 2 tháng). Giá trị của cam 1. Giá trị dinh dưỡng Cam là loại trái cây có hình cầu hơi khuyết, quả nhỏ hơn bưởi, đường kính từ 4 – 12 cm, có vị ngọt hoặc hơi chua vỏ cam tươi thường có màu xanh vàng, khi chin thường có màu da cam, vỏ mỏng khoảng 0,5 cm, bên trong chứa các tép mọng nước có màu vàng hay đỏ vàng, là một trong những loài cây quan trọng trên thế giới, giàu dinh dưỡng, ít năng lượng, dùng để ăn tươi, chế biến hoặc để làm thuốc. Theo kết quả nghiên cứu cho thấy, cứ 180 gam cam ở dạng đồ tráng miệng nguyên chất cung cấp tới 160% nhu cầu vitamin C trung bình của một người trong một ngày.
Cam cũng chứa nhiều vitamin A, canxi và chất xơ.1: Thành phần dinh dưỡng của một số loại cây ăn quả thông dụng (Thành phần trong 100 gam ăn được) lượng (cal Thiamin B1 (mg) Cellulos Vitamin (βcarote ne ( µg) Nicacin PP(mg) xenlulo Ribofla Protein C (mg) vin B2 hợp cả Gluxit Vit, A Nước Nhiệt Lipit (mg) (mg) (mg) e (g) tổng (g) (g) Bưởi 39 88,9 0,7 0,3 9,5 0,4 30 0,05 0,02 0,3 53 Cam 40 88,6 0,8 0,2 9,9 0,4 150 0,07 0,04 0,4 43 Chôm 64 82,0 1,0 0,1 16,5 1,1 0 0,01 0,06 0,4 53 chôm Măng 57 84,3 0,5 0,3 14,7 5,0 0 0,03 0,02 0,6 4 cụt Nhãn 71 81,0 1,0 1,4 15,6 0,3 - 0,03 0,14 0,3 56 Ổi 69 80,6 1,0 0,4 17,3 5,6 75 0,05 0,04 1,1 132 Quýt 41 88,6 0,7 0,2 10,2 0,3 465 0,09 0,04 0,4 42 Nguồn: FAO, 1976 Ngoài ra, có rất nhiều sản phẩm được chế biến từ cam: cam thường lột vỏ và ăn lúc còn tươi hay vắt lấy nước. Vỏ cam dày, có vị đắng, thường bị vứt đi nhưng có thể chế biến thành thức ăn cho súc vật bằng cách rút nước bằng sức ép và hơi nóng. Nó cũng được dùng làm gia vị hay đồ trang trí trong một số món ăn. Lớp ngoài cùng của vỏ có thể được dùng làm “zest” để thêm hương vị cam vào thức ăn.
Dầu cam được chế biến bằng cách ép vỏ. Nó được dùng làm gia vị trong thực phẩm và làm hương vị trong nước hoa. Dầu cam có khoảng 90% d-Limonene, một dung môi dùng trong nhiều hóa chất dùng trong gia đình, cùng với dầu chanh dùng để làm chất tẩy dầu mỡ và tẩy rửa nói chung. Chất tẩy rửa từ tinh chất cam hiệu quả, than thiện với môi trường và ít độc hại hơn sản phẩm cất từ dầu mỏ, đồng thời có mùi dễ chịu hơn.
Bên cạnh đó ở mặt y học, vỏ cam dầy lớp màu trắng là một nguồn pectin, nó được gọi là trần bì, là một vị thuốc Nam dùng chữa ho. Theo nghiên cứu của bác sỹ Joel Simon và các cộng sự ở Viện đại học Califormia, San Francisco (Mỹ) thì: ăn mỗi ngày một trái cam lớn giúp giảm 13% nguy cơ sỏi túi mật ở phụ nữ. Giá trị kinh tế - Giá trị công nghiệp: tuy không nhiều nhưng cam đồng thời cũng là một loại nguyên liệu trong ngành ép dầu, sử dụng nhiều trong công nghiệp đồ hộp, làm mứt, nước quả…Đồng thời công nghiệp chế biến đã nâng cao giá trị của cây cam về mặt sử dụng cũng như hàng hóa. - Giá trị môi trường: các loại cây ăn quả nói chung và cây cam nói riêng có tác dụng bảo vệ môi trường rất lớn, góp phần làm không khí trong lành, giảm tiếng ồn, làm đẹp cảnh quan, do đó, với điều kiện khí hậu thuận lợi, cây cam thích hợp trồng cả ở nông thôn và thành thị.
Bên cạnh đó, với điều kiện phát triển phù hợp ở vùng gò đồi, cam là một trong những loại cây thích hợp để phủ xanh đất trống đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân. - Giá trị kinh tế - xã hội: cam là loại cây ăn quả mang lại giá trị kinh tế khá cao, mỗi ha trồng cam có thể đem lại thu nhập hàng năm gấp 2 – 3 lần so với trồng lúa. Sản phẩm mang lại từ cam không chỉ là quả mà còn cả cành, cây hay hạt. Không chỉ đem lại sản phẩm chính là quả giàu dinh dưỡng, vitamin và khoáng chất mà còn dùng làm thực liệu trong công tác giống cây trồng.
- Gía trị xuất khẩu: Trồng cam là một hình thức thương mại quan trọng và là một phần đáng kể trong nền kinh tế Hoa kỳ (Florida và California), hầu hết các nước Địa Trung Hải, Brasil, Mexico, Pakistan, Trung quốc, Ấn độ, Iran, Ai Cập và Thổ Nhĩ Kỳ và đóng góp một phần nhỏ hơn trong nền kinh tế của Tây Ban Nha, Công hòa Nam phi và Hi lạp. Brasil là nước sản xuất cam nhiều nhất thế giới, sau đó là Florida, Hoa kỳ. Hiệu quả đầu tư và sản xuất cam 1.Đầu tư và hiệu quả đầu tư a. Khái niệm đầu tư Đầu tư có thể được hiểu theo các góc dộ khác nhau như góc độ nguồn lực, góc độ tài chính, góc độ tiêu dùng.