MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. Tài nguyên khí hậu là nguồn tài nguyên thiên nhiên có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia. Tài nguyên khí hậu cũng là một trong những thành phần chính của môi trường tự nhiên.
Nhưng hiện nay, tình hình ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng dẫn tới việc khí hậu thay đổi làm ảnh hưởng không nhỏ đến nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong đó, ảnh hưởng nặng nề nhất là ngành nông nghiệp vì đây là ngành phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên. Các chuyên gia an ninh lương thực thẳng thắn nhìn nhận, việc phải đảm bảo cung cấp lương thực, thực phẩm cho khoảng 9 tỷ người với mức tăng sản lượng lương thực toàn cầu khoảng 70% tính đến năm 2050 là một thách thức lớn trong bối cảnh các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang bị khai thác quá mức và sử dụng lãng phí, chưa kể tác động ngày càng lớn của thiên tai, biến đổi khí hậu. Tại Việt Nam, biến đổi khí hậu cũng gây ra những tác động tiêu cực đến sản xuất lương thực.
Theo kịch bản BĐKH do Bộ TN&MT 2011, nếu nước biển dâng 1m, khoảng 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, trên 10% diện tích đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, trên 2,5% diện tích các tỉnh ven biển miền Trung có nguy cơ bị ngập. Huyện Đoan Hùng cũng là địa phương chịu ảnh hưởng của BĐKH, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp. Chính vì vậy, để hiểu biết hơn về diễn biến của việc thay đổi khí hậu trên địa bàn huyện thì việc nghiên cứu ảnh hưởng của BĐKH đến tình hình sản xuất nông nghiệp là việc làm cần thiết. Từ những lý do trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới tình hình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ”.
Mục tiêu nghiên cứu. Mục tiêu chung - Nghiên cứu ảnh hưởng của BĐKH tới tình hình sản xuất nông nghiệp tại huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu những thay đổi về thời tiết và tình hình sản xuất nông nghiệp qua các năm gần đây. - Đánh giá những tác động của BĐKH (nhiệt độ, lượng mưa, bão & áp thấp nhiệt đới, hạn hán) đến tình hình sản xuất nông nghiệp.
- Đưa ra các giải pháp ứng phó, thích ứng với BĐKH trong lĩnh vực nông nghiệp. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Khóa luận có thể giúp sinh viên có thể vận dụng được các kiến thức đã học vào trong thực tiễn. - Giúp sinh viên nâng cao kiến thức, kĩ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này.
Ý nghĩa thực tiễn - Khóa luận là cơ sở cho địa phương có những giải pháp để ứng phó những biến đổi của khí hậu. Đồng thời là cơ sở để đưa ra được kịch bản khí hậu của địa phương trong những năm tới. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Biến đổi khí hậu và những tác động của BĐKH 2.
Khái niệm BĐKH BĐKH trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo. Theo công ước chung của Liên hợp quốc (LHQ) về BĐKH, ta có thể hiểu: BĐKH là những ảnh hưởng có hại do BĐKH gây ra, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý, đến các hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội, sức khỏe và phúc lợi của con người.[5] Nguyên nhân gây ra BĐKH Nguyên nhân gây ra BĐKH do tự nhiên Nguyên nhân gây ra BĐKH do tự nhiên bao gồm thay đổi cường độ sáng của Mặt trời, xuất hiện các điểm đen của Mặt trời ( Sunspots), các hoạt động núi lửa, thay đổi đại dương, thay đổi quỹ đạo quay của Trái đất. Với sự xuất hiện các Sunspots làm cho cường độ tia bức xạ Mặt trời chiếu xuống Trái đất thay đổi, nghĩa là năng lượng chiếu xuống mặt đất làm thay đổi nhiệt độ bề mặt Trái đất (Nguồn: NASA). Sự thay đổi cường độ sáng của Mặt trời cũng gây ra sự thay đổi năng lượng chiếu xuống mặt đất làm thay đổi nhiệt độ bề mặt Trái đất.
Cụ thể là từ khi tạo thành Mặt trời đến nay gần 4,5 tỉ năm, cường độ sáng của Mặt trời đã tăng lên hơn 30%. Như vậy có thể thấy khoảng thời gian khá dài như vậy thì sự thay đổi cường độ sáng Mặt trời là không ảnh hưởng lớn đến BĐKH. Núi lửa phun trào – Khi một ngọn núi lửa phun trào sẽ phát thải vào khí quyển một lượng cực kì lớn khí SO2, hơi nước, bụi và tro vào bầu khí quyển. Khối lượng lớn khí và tro có thể ảnh hưởng đến khí hậu trong nhiều năm.
Các hạt nhỏ được gọi là các sol khí được phun ra bởi núi lửa, các sol khí phản n 4 chiếu lại bức xạ (năng lượng) mặt trời trở lại vào không gian vì vậy chúng có tác dụng làm giảm nhiệt độ lớp bề mặt trái đất. Đại dương ngày nay – Các đại dương là một thành phần chính của hệ thống khí hậu. Dòng hải lưu di chuyển một lượng lớn nhiệt trên khắp hành tinh, Thay đổi lưu thông đại dương có thể ảnh hưởng đến khí hậu thông qua sự chuyển động của CO2 vào trong khí quyển. Thay đổi quỹ đạo quay của trái đất – Trái đất quay quanh mặt trời với một quỹ đạo.
Trục quay có góc nghiêng 23,5°. Thay đổi độ nghiêng của quỹ đạo quay Trái đất có thể dẫn tới những thay đổi nhỏ. Tốc độ thay đổi cực kì nhỏ có thể tính đến thời gian hàng tỷ năm, vì vậy ảnh hưởng không lớn tới BĐKH. Có thể thấy rằng các nguyên nhân gây ra BĐKH do các yếu tố tự nhiên đóng góp một phần nhỏ vào sự BĐKH và có tính chu kì kể từ quá khứ đến hiện nay.
Theo các kết quả nghiên cứu và công bố từ Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH thì nguyên nhân gây ra BĐKH chủ yếu là do các hoạt động của con người.[5] Nguyên nhân gây ra BĐKH do hoạt động con người Đã có các nghiên cứu chuyên sâu chứng minh rằng nhiệt độ bề mặt trái đất tăng lên nhanh chóng hơn nửa thế kỉ qua chủ yếu là do hoạt động của con người, chẳng hạn như việc đốt các nhiên liệu hóa thạch ( than đá, dầu mỏ,.) phục vụ các hoạt động công nghiệp, giao thông vận tải,.và thay đổi mục đích sử dụng đất (thay đổi albedo bề mặt đất) bao gồm thay đổi trong nông nghiệp và nạn phá rừng. Ngoài ra, còn một số hoạt động khác như đốt sinh khối, sản phẩm sau thu hoạch. Các khám phá liên quan đến nguyên nhân gây ra BĐKH do hoạt động của con người của Ủy ban Liên Chính Phủ về BĐKH công bố qua các năm như sau: + Trong báo cáo của IPCC 1995: Cho rằng hoạt động của con người chỉ đóng góp vào 50% nguyên nhân gây ra BĐKH. n 5 + Trong báo cáo của IPCC 2001: Sau khi các nhà nghiên cứu thực hiện các nghiên cứu khoa học thì kết quả chỉ ra rằng hoạt động của con người đóng góp vào 67% nguyên nhân gây ra BĐKH.
+ Trong báo cáo của IPCC 2007: Một loạt các nghiên cứu được thực hiện, kết quả chỉ ra rằng hoạt động con người đóng góp vào 90% gây ra BĐKH. + Và theo báo cáo của IPCC gần đây nhất kết luận rằng hoạt động của con người đóng góp vào 95% nguyên nhân gây ra BĐKH. Kết quả này được công bố vào năm 2013. Ví dụ: Theo thông báo thứ 2 của Việt Nam với Công ước khung Liên Hiệp Quốc về BĐKH ( UNFCCC) thì kết quả kiểm kê khí nhà kính (KNK) năm 2000 của Việt Nam là 143 triệu tấn CO2 tương đương / năm.
Trong đó nông nghiệp chiếm 45%, năng lượng chiếm 35% tổng phát thải KNK của Việt Nam. Vì Việt Nam là nước có tỉ trọng sản xuất nông nghiệp cao nên lượng phát thải KNK chiếm đến 45%. 2% 35% 45% nông nghiệp công nghiệp lâm nghiệp năng lượng chất thải 11% 7% Hình 2.1: Kết quả kiểm kê KNK năm 2000 của Việt Nam Tuy nhiên đối với các nước phát triển thì ngành nông nghiệp họ chiếm tỉ trọng khá nhỏ, vì vậy phát thải KNK của các nước phát triển đối với ngành nông nghiệp chỉ chiếm 8% tổng phát thải KNK. Trong khi phát thải KNK từ hoạt động sản xuất năng lượng của các nước phát triển chiếm đến 36%, hoạt động giao thong chiếm 23% tổng phát thải KNK.
Biểu hiện của BĐKH Các biểu hiện của sự BĐKH bao gồm: n 6 - Sự nóng lên của khí quyển và Trái đất nói chung. - Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên Trái đất. - Sự dâng cao mực nước biển do tan băng dẫn đến sự ngập úng các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển. - Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của Trái đất dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người.
- Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển. chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hóa khác. - Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thủy quyển, sinh quyển, các địa quyển. Tác động của BĐKH - Đến tài nguyên nước: + BĐKH làm suy thoái tài nguyên nước trên các lưu vực sông, ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống và hoạt động sản xuất của người dân.
+ Có nguy cơ suy giảm do hạn hán ngày một tăng ở một số vùng, mùa. + Chế độ mưa thay đổi có thể gây lũ lụt vào mùa mưa, hạn hán vào mùa khô, gây khó khăn cho việc cung cấp nước và tăng mâu thuẫn trong sử dụng nước. - Đến môi trường: + Sự tăng nước biển sẽ làm nhiễm mặn các vùng ven biển, môi trường nước mặt bị ô nhiễm nặng nề. + Nhiệt độ tăng lên làm tăng khả năng hòa tan các kim loại nặng và NO-3 độc hại, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường đất.
+ Làm thay đổi chu trình C trong đất làm môi trường đất thay đổi theo xu hướng bất lợi cho thực vật và vi sinh vật. + Làm tăng nồng độ khí CO2 trong khí quyển, gây độc trực tiếp cho con người và động vật.