Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Tài nguyên khí hậu đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và là thành phần thiết yếu của môi trường tự nhiên. Sự gia tăng ô nhiễm và phát thải khí nhà kính toàn cầu đã thúc đẩy biến đổi khí hậu (BĐKH), gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiều lĩnh vực, trong đó nông nghiệp là ngành chịu tác động trực tiếp và nặng nề nhất do phụ thuộc chặt chẽ vào các điều kiện tự nhiên. Theo các kịch bản BĐKH do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố năm 2011, nếu mực nước biển dâng 1m, ước tính khoảng 39% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long, trên 10% diện tích Đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, cùng hơn 2,5% diện tích các tỉnh ven biển miền Trung sẽ đối mặt với nguy cơ ngập úng.

Tại tỉnh Phú Thọ, huyện Đoan Hùng là địa phương miền núi phát triển kinh tế dựa chủ yếu vào sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản. Những năm gần đây, diễn biến thời tiết cực đoan như rét đậm kéo dài đầu vụ chiêm xuân, nắng nóng gay gắt, mưa lũ và hạn hán bất thường đã tác động rõ rệt đến mùa vụ, năng suất cây trồng và sức khỏe đàn vật nuôi. Nhằm nhận diện diễn biến khí hậu và đánh giá mức độ ảnh hưởng thực tế tới hoạt động sản xuất trên địa bàn, tác giả Bùi Thị Thanh Hương đã thực hiện đề tài "Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến tình hình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ".

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu chung: Nghiên cứu ảnh hưởng của BĐKH tới tình hình sản xuất nông nghiệp tại huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Tìm hiểu những thay đổi về thời tiết và tình hình sản xuất nông nghiệp qua các năm gần đây trên địa bàn huyện.
    2. Đánh giá những tác động của BĐKH (thông qua các yếu tố nhiệt độ, lượng mưa, bão và áp thấp nhiệt đới, hạn hán) đến tình hình sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản).
    3. Đưa ra các giải pháp ứng phó, thích ứng với BĐKH trong lĩnh vực nông nghiệp tại địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản) và các yếu tố thời tiết, khí hậu trong những năm gần đây tại Đoan Hùng, Phú Thọ.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn 27 xã và 01 thị trấn thuộc huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ (tập trung khảo sát sâu tại 4 xã: Ngọc Quan, Bằng Doãn, Phúc Lai, Chí Đám).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được triển khai thực hiện thực địa và thu thập số liệu từ ngày 05/05/2014 đến ngày 05/08/2014, sử dụng chuỗi số liệu thống kê sản xuất và khí tượng giai đoạn 2009 - 2013 cùng các dữ liệu quan trắc lịch sử (1970 - 2010).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý

Nghiên cứu tiếp cận khái niệm BĐKH theo định nghĩa của Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC) và các báo cáo đánh giá định kỳ của Ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) từ các năm 1995, 2001, 2007 đến 2013 (khẳng định 95% nguyên nhân BĐKH xuất phát từ hoạt động của con người). Khóa luận vận dụng các dữ liệu kiểm kê khí nhà kính quốc gia năm 2000 (tổng phát thải 143 triệu tấn $CO_2$ tương đương/năm, trong đó nông nghiệp chiếm 45%, năng lượng chiếm 35%).

Khung thể chế và chính sách thích ứng BĐKH được trích xuất từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam và quốc tế:

  • Hiệp ước quốc tế: Công ước UNFCCC, Nghị định thư Kyoto (KP).
  • Văn bản pháp luật quốc gia: Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005; Chỉ thị số 35/2005/CT-TTg về tổ chức thực hiện Nghị định thư Kyoto; Quyết định 04/2005/QĐ-BNN về Ban Điều phối quốc gia thực hiện Công ước chống sa mạc hóa; Quyết định 130/2007/QĐ-TTg và Thông tư 10/2006/TT-BTNMT về cơ chế phát triển sạch (CDM); Quyết định 158/2008/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH; Thông tư liên tịch 07/2010/TTLT-BTNMT-BTC-BKHĐT; Quyết định 2703/QĐ-BNN-KHCN ban hành khung chương trình hành động thích ứng BĐKH ngành NN&PTNT giai đoạn 2008 - 2020; Quyết định 4103/QĐ-BTC của Bộ Công Thương; Quyết định 25/QĐ-UBQGBĐKH; Quyết định 1474/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về BĐKH giai đoạn 2012 - 2020.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Tác giả đã kết hợp các phương pháp nghiên cứu đa ngành trong lĩnh vực khoa học môi trường:

  1. Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập báo cáo kinh tế - xã hội huyện Đoan Hùng, số liệu thống kê sản xuất nông - lâm - thủy sản, báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Phú Thọ, chuỗi số liệu khí tượng thủy văn trạm Vụ Quang và các văn bản chỉ đạo của chính quyền địa phương.
  2. Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh: Hệ thống hóa chuỗi số liệu nhiệt độ, lượng mưa, diện tích canh tác, sản lượng mùa vụ và tình hình sâu bệnh qua các giai đoạn 2009 - 2013 để đánh giá xu thế biến động.
  3. Phương pháp thực địa: Khảo sát hiện trường tại các khu vực canh tác tập trung, vùng đất bãi ven sông Lô, sông Chảy và các vùng trồng rừng sản xuất chịu ảnh hưởng của thời tiết cực đoan.
  4. Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp: Thiết kế và phát 100 phiếu điều tra xã hội học trực tiếp đến các hộ nông dân tại 4 xã (Ngọc Quan, Bằng Doãn, Phúc Lai, Chí Đám). Mẫu điều tra bảo đảm tính đại diện về lứa tuổi, giới tính, thời gian gắn bó với nghề nông và kinh nghiệm sản xuất. Tỷ lệ thu hồi đạt 100% (100/100 phiếu).
  5. Phương pháp xử lý số liệu và phương pháp chuyên gia: Sử dụng các công cụ tin học để tổng hợp bảng biểu, biểu đồ, kết hợp tham vấn ý kiến cán bộ chuyên môn tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đoan Hùng.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu bảo đảm an ninh lương thực trong bối cảnh BĐKH toàn cầu và tình hình biến động thời tiết cục bộ tại huyện Đoan Hùng. Xác lập hệ thống mục tiêu chung, 3 mục tiêu cụ thể, ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong công tác quản lý tài nguyên - môi trường tại địa phương.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Khái quát các vấn đề lý luận về BĐKH: khái niệm, nguyên nhân tự nhiên (chu kỳ Mặt trời, núi lửa, hải lưu, quỹ đạo Trái đất) và nguyên nhân nhân tạo (đốt nhiên liệu hóa thạch, thay đổi sử dụng đất). Tổng hợp biểu hiện và tác động của BĐKH trên phạm vi toàn cầu và tại Việt Nam:

  • Diễn biến toàn cầu: Nhiệt độ thế kỷ 20 tăng 0,75°C; giai đoạn 1956 - 2005 tăng 0,64°C ± 0,13°C; diện tích băng Bắc Băng Dương giảm 2,7% mỗi thập kỷ kể từ 1978.
  • Diễn biến tại Việt Nam: Giai đoạn 1951 - 2000 có 225 cơn bão/áp thấp nhiệt đới (trung bình 6,7 cơn/năm); trung bình 30 đợt phơ-rông lạnh/năm (1955 - 2000); nhiệt độ tăng 0,15°C mỗi thập kỷ; các đợt hạn hán, rét đậm rét hại kéo dài (như mùa đông 2007 - 2008 rét đậm 38 ngày làm chết 53.000 ha lúa xuân tại miền Bắc và Bắc Trung Bộ).
  • Tổng quan các chính sách, thỏa thuận quốc tế và văn bản chỉ đạo ứng phó BĐKH của Chính phủ và các Bộ ngành.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định phạm vi nghiên cứu tại huyện Đoan Hùng với tổng diện tích tự nhiên 30.261,34 ha gồm 27 xã và 1 thị trấn. Chi tiết hóa 4 nội dung nghiên cứu trọng tâm và trình bày quy trình thực hiện 6 phương pháp nghiên cứu (thu thập dữ liệu thứ cấp, phân tích so sánh, thực địa, điều tra bảng hỏi 100 hộ dân, xử lý số liệu tin học, tham vấn chuyên gia).

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội huyện Đoan Hùng

  • Vị trí và địa hình: Huyện miền núi phía Tây Bắc tỉnh Phú Thọ, dốc dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, gồm 2 dạng địa hình chính: đồng bằng phù sa và đồi núi.
  • Khí hậu: Nhiệt độ trung bình năm 23 - 24°C, nhiệt độ mùa nóng 27 - 38°C, mùa lạnh 15 - 16°C. Lượng mưa trung bình 1.780 mm (mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11). Độ ẩm trung bình 84%, giờ nắng trung bình 2.372 giờ/năm.
  • Thủy văn: Hệ thống sông Lô (chảy qua 8 xã/thị trấn với chiều dài 25 km, lưu lượng trung bình 1.020 $m^3/s$, đỉnh lũ tháng 7 đạt 2.950 $m^3/s$, kiệt tháng 3 là 234 $m^3/s$) và sông Chảy (chiều dài 22 km qua 7 xã).
  • Tài nguyên đất và rừng: Đất đồng bằng ruộng trũng chiếm 18,64%, đất đồi núi chiếm 66,33%. Diện tích đất lâm nghiệp đạt trên 12.993 ha (chiếm khoảng 42,5% diện tích tự nhiên), trong đó rừng phòng hộ có 193,50 ha, rừng đặc dụng 600,62 ha và rừng sản xuất 12.199,51 ha.

2. Biểu hiện của biến đổi khí hậu tại huyện Đoan Hùng

  • Nhiệt độ: Trong 40 năm qua, nhiệt độ trung bình tại huyện tăng 0,87°C (nhiệt độ trung bình năm tăng 1,11°C). Năm 2011, nhiệt độ trung bình thấp hơn chuẩn nhiều năm 2,5 - 3,5°C; năm 2012 nắng nóng xuất hiện sớm với mức nhiệt cực trị 38 - 39°C; năm 2013 nắng nóng xuất hiện muộn vào cuối tháng 4 nhưng đi kèm các đợt rét thất thường vào mùa đông.
  • Lượng mưa: Giai đoạn 1970 - 2010, tổng lượng mưa trung bình năm giảm 22,41%. Sự phân hóa mùa mưa diễn biến phức tạp: mùa xuân giảm 9,27%, mùa hè giảm 16,61%, mùa thu giảm mạnh 37,49%, trong khi mùa đông tăng nhẹ 8,67%. Mưa tập trung cường độ lớn làm thay đổi dòng chảy sông ngòi.
  • Thủy văn và bão lũ: Mực nước sông Lô tại trạm Vụ Quang sụt giảm nghiêm trọng trong mùa khô (tháng 3 năm 2000 đạt 1.184 cm, giảm xuống 537 cm vào tháng 3 năm 2010 và 681 cm vào tháng 3 năm 2012). Từ năm 2001 đến 2013, huyện chịu ảnh hưởng trực tiếp của 25 cơn bão và áp thấp nhiệt đới (điển hình là bão số 4 năm 2009, bão số 1 năm 2010, bão Bebinca, bão Haiyan, bão Utor năm 2013).
Bảng 1: Mực nước trung bình tháng sông Lô tại trạm Vụ Quang qua các năm (Đơn vị: cm)
Tháng Năm 2000 Năm 2005 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
1 1.171 1.114 615 666 869
2 1.158 1.095 634 656 544
3 1.184 1.105 537 617 681
4 1.190 1.098 583 684 707
5 1.227 1.109 759 827 1.073
6 1.331 1.389 833 929 916
7 1.442 1.384 1.043 1.020 1.523
8 1.463 1.395 1.078 878 928
9 1.263 1.258 985 800 1.011
10 1.420 1.180 838 703 700
11 1.203 1.124 657 661 666
12 1.192 1.048 672 629 611

3. Tác động của biến đổi khí hậu đến các ngành sản xuất nông nghiệp

  • Ngành trồng trọt:
    • Nhiệt độ tăng rút ngắn thời gian sinh trưởng của cây lúa từ 5 - 8 ngày/vụ khi tăng 1°C. Rét hại kèm sương muối làm chết mạ vụ Đông Xuân; nắng nóng tháng 5 - 7 làm giảm năng suất lúa mùa và rau màu.
    • Năm 2012, lũ lớn và sạt lở bờ sông Lô tại xã Chí Đám cuốn trôi 4,5 ha bưởi đặc sản. Năm 2013, toàn huyện ghi nhận 123,7 ha ngô và 216,4 ha lúa bị hạn hán và ngập úng; năng suất lúa giảm 1,15 tạ/ha, năng suất ngô giảm 0,97 tạ/ha, sản lượng lúa sụt giảm 284,4 tấn so với năm 2012.
    • Sâu bệnh hại bùng phát: Năm 2010, diện tích lúa nhiễm rầy nâu lên tới 3.215 ha (Đông Xuân 2.134 ha, Hè Thu 1.081 ha) và bệnh vàng lùn - lùn xoắn lá (VL-LXL) là 1.352 ha. Dịch khô vằn nhiễm 127 ha; dịch châu chấu bùng phát tại 15 xã với diện tích trên 48 ha, mật độ 100 - 1.200 $con/m^2$ (tập trung tại Chí Đám 14 ha, Sóc Đăng 11 ha, Tiêu Sơn 10 ha, Hùng Quan 5 ha).
Bảng 2: Diễn biến diện tích lúa bị nhiễm rầy nâu và bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá (Đơn vị: ha)
Năm Vụ sản xuất Diện tích nhiễm Rầy nâu Diện tích nhiễm VL - LXL
2010 Đông xuân 2.134 1.243
Hè thu 1.081 63
2011 Đông xuân 1.021 144
Hè thu 1.213 -
2012 Đông xuân 1.102 340
Hè thu 319 -
2013 Đông xuân 1.017 300
Hè thu 448 -
Bảng 3: Kết quả sản xuất ngành trồng trọt huyện Đoan Hùng giai đoạn 2009 - 2013
Năm Cây lúa (ha / tấn) Cây ngô (ha / tấn) Cây sắn (ha / tấn) Cây chè búp tươi (ha thu hoạch / tấn)
2009 7.428,7 / 37.111,9 2.156,7 / 7.943,2 501,0 / 5.511,0 2.446,0 / 14.888,6
2010 7.227,8 / 36.965,1 1.856,0 / 8.612,7 468,0 / 8.424,0 4.245,0 / 31.460,3
2011 7.239,3 / 39.892,2 1.935,0 / 9.139,3 412,0 / 7.419,3 4.490,4 / 36.118,8
2012 7.321,6 / 40.663,7 1.805,4 / 8.811,7 512,7 / 9.228,6 4.082,6 / 45.925,7
2013 7.271,6 / 40.233,7 1.907,7 / 9.004,3 512,7 / 9.228,6 2.664,4 / 33.000,0
  • Ngành chăn nuôi:
    • Quy mô đàn gia súc, gia cầm năm 2013: đàn trâu 6.253 con (tỷ lệ tăng đàn bình quân giảm 4,18%), đàn bò 1.980 con (tăng 2,59%), đàn lợn 84.178 con (giảm 7,84%), đàn gia cầm 1.200.000 con (giảm 6,02%).
    • Khảo sát cho thấy 47/50 hộ chăn nuôi khẳng định nhiệt độ cao kết hợp chuồng trại đơn sơ làm gia súc (đặc biệt là lợn con) bị sốc nhiệt và chết.
    • Thiệt hại dịch bệnh: Năm 2011 chết 20.721 con gia súc gia cầm (6 trâu bò, 3.273 lợn, 17.442 gia cầm). Năm 2012 chết 9 trâu bò do tụ huyết trùng, 2.436 lợn (121 con tai xanh, 97 con lở mồm long móng), 10.538 gia cầm. Năm 2013 tiêu hủy 23 lợn tai xanh, 7 trâu bò chết do tụ huyết trùng, 5.728 gia cầm chết.
    • Nhu cầu vắc xin phòng chống dịch năm 2013 rất lớn: cúm gia cầm 420.000 liều (260.000 liều tiêm phòng, 160.000 liều chống dịch), dịch tả lợn 40.171 liều, tụ huyết trùng lợn 36.895 liều, tụ huyết trùng trâu bò 26.236 liều, lở mồm long móng 25.373 liều, tai xanh 1.200 liều.
Bảng 4: Biến động số lượng đàn vật nuôi huyện Đoan Hùng giai đoạn 2009 - 2013 (Đơn vị: con)
Loại vật nuôi Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Đàn Trâu 10.938 9.021 7.355 6.526 6.253
Đàn Bò 6.487 4.990 2.580 1.930 1.980
Đàn Lợn 60.062 73.803 79.547 91.338 84.178
Đàn Gia cầm 953.700 1.228.400 1.165.800 1.276.900 1.200.000
  • Ngành lâm nghiệp:
    • Rừng phòng hộ ven sông bị suy giảm chức năng do sạt lở bờ sông Lô và sông Chảy; đất dốc bị rửa trôi chất dinh dưỡng do mưa lớn cực đoan.
    • Năm 2013 ghi nhận dịch sâu róm ăn lá keo bùng phát trên diện tích 120 ha rừng trồng tại toàn bộ 28 xã, thị trấn. Mặc dù nguy cơ cháy rừng vào mùa khô cao nhưng địa phương kiểm soát tốt nên không xảy ra thiệt hại do cháy rừng.
  • Ngành thủy sản:
    • Năm 2013, toàn huyện có 412 ha diện tích nuôi trồng thủy sản, sản lượng đạt 1.050 tấn.
    • Nắng nóng làm giảm hàm lượng oxy hòa tan trong ao hồ vào ban đêm, làm biến động pH nước. Mưa lũ lớn trên sông Lô làm trôi lồng bè nuôi cá tại các xã ven sông (Đông Khê, Vụ Quang). Năm 2013 có 5,2 ha nuôi thủy sản mất trắng, điển hình hộ anh Đặng Văn Quảng (xã Đông Khê) bị lũ cuốn trôi hoàn toàn 3 lồng nuôi cá cỡ 1 kg/con.

4. Nhận thức của người dân về biến đổi khí hậu

Kết quả khảo sát 100 hộ dân tại 4 xã (Ngọc Quan, Bằng Doãn, Phúc Lai, Chí Đám) ghi nhận:

  • 97% hộ dân (97/100 người) khẳng định thời tiết, khí hậu trong những năm gần đây có sự thay đổi bất thường.
  • Chi tiết đánh giá: 52 hộ nhận thấy thời tiết ngày càng khắc nghiệt; 33 hộ phản ánh diễn biến thời tiết thất thường; 9 hộ nhận xét nắng nóng kéo dài, mưa ít; 3 hộ ghi nhận nhiệt độ tăng cao và hạn hán xuất hiện nhiều hơn.

Kết quả và đóng góp nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu chính

  1. Khóa luận đã hệ thống hóa và lượng hóa được các biểu hiện BĐKH tại huyện Đoan Hùng: trong 40 năm qua nhiệt độ trung bình tăng 0,87°C; lượng mưa trung bình năm (1970 - 2010) sụt giảm 22,41% với sự suy giảm nghiêm trọng nhất vào mùa thu (-37,49%); mực nước sông Lô mùa kiệt sụt giảm hơn 50% so với năm 2000; tần suất thiên tai, bão lũ và áp thấp nhiệt đới gia tăng (25 cơn bão từ 2001 đến 2013).
  2. Làm rõ mức độ tổn thương của từng phân ngành sản xuất nông nghiệp:
    • Trồng trọt: Dịch rầy nâu, vàng lùn xoắn lá bùng phát diện rộng (đỉnh điểm 3.215 ha rầy nâu năm 2010); sâu bệnh và ngập úng năm 2013 làm giảm 284,4 tấn sản lượng lúa; thiên tai làm mất 4,5 ha bưởi đặc sản ven sông Lô (2012) và 340,1 ha lúa, ngô (2013).
    • Chăn nuôi: Đàn trâu bò sụt giảm liên tục (đàn trâu giảm từ 10.938 con năm 2009 xuống 6.253 con năm 2013); dịch bệnh tai xanh, tụ huyết trùng, lở mồm long móng gây thiệt hại hàng chục nghìn gia súc, gia cầm mỗi năm.
    • Lâm nghiệp & Thủy sản: Ghi nhận 120 ha rừng keo bị sâu róm phá hại; 5,2 ha nuôi trồng thủy sản và nhiều lồng bè cá trên sông Lô bị lũ cuốn trôi mất trắng.
  3. Đo lường nhận thức cộng đồng với 97% người dân địa phương đã nhận thức được tính bất thường và mức độ khắc nghiệt của BĐKH tác động đến sinh kế canh tác.

Đề xuất giải pháp thích ứng của tác giả

  • Trong trồng trọt: Điều chỉnh khung lịch thời vụ (gieo mạ vụ Đông Xuân sớm hơn để tránh rét đậm, đẩy lùi lịch gieo cấy vụ Hè Thu muộn hơn nhằm tránh đỉnh lũ); chuyển đổi cơ cấu giống sang các giống lúa, ngô có khả năng chịu hạn, kháng sâu bệnh; áp dụng mô hình lúa tái sinh (năm 2013 đạt 39,8 ha với sản lượng 77,4 tấn); cải tạo vườn chè kém hiệu quả bằng giống năng suất cao; thâm canh bảo vệ diện tích bưởi đặc sản và bưởi Diễn.
  • Trong chăn nuôi: Cải tạo hệ thống chuồng trại thông thoáng chống nóng mùa hè và che chắn giữ ấm mùa đông; thực hiện nghiêm ngặt quy trình tiêm phòng vắc xin định kỳ; chuyển đổi phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ sang tập trung an toàn sinh học.
  • Trong lâm nghiệp: Chuyển đổi diện tích bạch đàn tái sinh kém hiệu quả sang trồng keo (năm 2013 đã chuyển đổi 357 ha trong tổng số 1.200 ha rừng trồng mới); tăng cường bảo vệ rừng phòng hộ ven sông Lô, sông Chảy nhằm giảm thiểu xói lở đất.
  • Trong thủy sản: Củng cố bờ bao ao đầm trước mùa mưa bão; gia cố hệ thống lồng bè nuôi cá trên sông Lô; chủ động theo dõi chất lượng nước và xả tràn khi lũ lớn xuất hiện.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Đề tài được thực hiện trong khoảng thời gian thực tập tốt nghiệp 3 tháng (từ tháng 5 đến tháng 8 năm 2014); quy mô điều tra xã hội học dừng lại ở mức 100 phiếu phân bổ tại 4/28 xã, thị trấn; chuỗi dữ liệu thống kê chuyên sâu chủ yếu tập trung trong giai đoạn 2009 - 2013 và khai thác dữ liệu thứ cấp sẵn có tại địa phương.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát điều tra xã hội học trên toàn bộ 28 xã, thị trấn của huyện Đoan Hùng; xây dựng các mô hình định lượng dự báo thiệt hại kinh tế nông nghiệp theo các kịch bản BĐKH chi tiết cấp huyện trong tương lai; nghiên cứu sâu các mô hình sinh kế nông nghiệp thích ứng BĐKH dựa vào cộng đồng (CBA).

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho sinh viên, học viên các ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Nông nghiệp học, Biến đổi Khí hậu và Phát triển Nông thôn.

Nội dung nghiên cứu cung cấp hệ thống số liệu thực tế có giá trị phục vụ công tác quản lý tài nguyên, xây dựng kế hoạch hành động ứng phó BĐKH cho cán bộ tại Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Đoan Hùng cũng như các huyện miền núi có điều kiện tự nhiên tương đồng tại tỉnh Phú Thọ. Các bảng thống kê về dịch bệnh cây trồng, biến động đàn vật nuôi và chuỗi mực nước trạm Vụ Quang là dữ liệu tham khảo tốt cho các đề tài nghiên cứu liên quan đến lưu vực sông Lô - sông Chảy.


Câu hỏi thường gặp

1. Đề tài đã khảo sát nhận thức của bao nhiêu người dân và kết quả ghi nhận như thế nào? Tác giả đã phát và thu hồi 100 phiếu điều tra tại 4 xã (Ngọc Quan, Bằng Doãn, Phúc Lai, Chí Đám). Kết quả cho thấy 97% hộ dân khẳng định thời tiết những năm gần đây thay đổi bất thường; trong đó 52% cho rằng thời tiết khắc nghiệt hơn, 33% nhận định thời tiết thất thường, 9% phản ánh nắng nóng kéo dài và mưa ít, 3% ghi nhận nhiệt độ tăng cao và hạn hán nhiều hơn.

2. Nhiệt độ và lượng mưa tại huyện Đoan Hùng biến đổi như thế nào trong chuỗi số liệu lịch sử? Trong 40 năm (tính đến thời điểm nghiên cứu), nhiệt độ trung bình tại huyện tăng 0,87°C (nhiệt độ trung bình năm tăng 1,11°C). Về lượng mưa, giai đoạn 1970 - 2010 ghi nhận tổng lượng mưa năm giảm 22,41%; trong đó lượng mưa mùa thu giảm mạnh nhất (-37,49%), mùa hè giảm 16,61%, mùa xuân giảm 9,27% và mùa đông tăng nhẹ 8,67%.

3. Biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan gây ra những thiệt hại cụ thể nào đối với ngành trồng trọt tại Đoan Hùng giai đoạn 2010 - 2013? Năm 2010, dịch rầy nâu hại lúa bùng phát trên 3.215 ha và bệnh vàng lùn - lùn xoắn lá nhiễm 1.352 ha. Năm 2012, lũ và sạt lở sông Lô tại xã Chí Đám cuốn trôi 4,5 ha bưởi đặc sản. Năm 2013, toàn huyện có 123,7 ha ngô và 216,4 ha lúa bị hạn hán và ngập úng, làm năng suất lúa giảm 1,15 tạ/ha, năng suất ngô giảm 0,97 tạ/ha và sản lượng lúa sụt giảm 284,4 tấn. Dịch châu chấu nở phá hại trên 48 ha tại 15 xã với mật độ từ 100 đến 1.200 $con/m^2$.

4. Ngành chăn nuôi tại huyện Đoan Hùng chịu những tổn thất và rủi ro dịch bệnh nào trong các năm 2011 - 2013? Thiệt hại ghi nhận: Năm 2011 có 20.721 con gia súc gia cầm bị chết (6 trâu bò, 3.273 lợn, 17.442 gia cầm). Năm 2012 chết 9 trâu bò do tụ huyết trùng, 2.436 lợn (121 lợn tai xanh, 97 lợn lở mồm long móng) và 10.538 gia cầm. Năm 2013 tiêu hủy 23 lợn tai xanh, 7 trâu bò chết do tụ huyết trùng và 5.728 gia cầm chết. Điều tra 50 hộ chăn nuôi có 47 hộ phản ánh lợn (nhất là lợn con) bị chết do sốc nhiệt nắng nóng và chuồng trại không bảo đảm.

5. Lĩnh vực thủy sản tại địa phương chịu tác động trực tiếp ra sao từ thời tiết và chế độ thủy văn sông Lô? Nắng nóng làm giảm oxy hòa tan và biến động pH nước ao hồ. Mưa lũ lớn trên sông Lô làm thay đổi đột ngột dòng chảy, gây trôi dạt lồng bè nuôi cá. Năm 2013, toàn huyện ghi nhận 5,2 ha nuôi trồng thủy sản mất trắng; trong đó hộ anh Đặng Văn Quảng tại xã Đông Khê bị dòng lũ cuốn trôi hoàn toàn 3 lồng nuôi cá trên sông Lô với kích cỡ cá khoảng 1 kg/con.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Thị Thanh Hương đã phản ánh bức tranh toàn diện và khách quan về diễn biến BĐKH cùng những tác động tiêu cực đến toàn bộ các phân ngành sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Bằng sự kết hợp giữa chuỗi số liệu quan trắc khí tượng, thống kê nông nghiệp giai đoạn 2009 - 2013 và khảo sát xã hội học 100 hộ dân, công trình đã chứng minh tính dễ bị tổn thương của nền nông nghiệp nông thôn trước các hiện tượng thời tiết cực đoan và sâu bệnh hại. Các giải pháp điều chỉnh lịch thời vụ, cơ cấu giống cây trồng - vật nuôi và cải tạo kỹ thuật canh tác được đề xuất mang tính khả thi, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác quy hoạch phát triển nông nghiệp bền vững tại địa phương.