chương I: Trong chương này, qua việc nghiên cứu cơ sở lý thuyết của hoạt động ngoại thương và tác động của việc sản xuất lúa gạo đối với việc phát triển bền vững trong nền kinh tế hội nhập hiện nay, từ đó tìm hiểu việc xuất khẩu gạo có ảnh hưởng như thế nào đối với việc cung cấp lương thực cho nhu cầu ngày càng gia tăng trên thế giới. Nhu cầu về lương thực thực phẩm là nhu cầu thiết đầu tiên, thiết yếu và cơ bản của đời sống con người và xã hội, xuyên suốt mọi thời đại và mọi nền văn minh. Cho dù xã hội phát triển cao đến đâu chăng nữa thì nhu cầu này là vẫn là nhu cầu thiết yếu của đời sống xã hội. Con người luôn cần có lương thực và thực phẩm để tái sản xuất sức lao động nhằm tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội.
Vì vậy, việc sản xuất lương thực và thực phẩm luôn là vấn đề cấp thiết quan tâm. Trên thế giới có hơn 53% dân số có nhu cầu cấp thiết về lương thực. Tuy nhiên, lượng lúa gạo sản xuất hiện nay chưa đáp ứng được tất cả nhu cầu của dân số thế giới, vẫn còn có hơn 815 triệu người thiếu ăn và mỗi năm gần 6 triệu trẻ em bị tử vong do đói nghèo và suy dinh dưỡng. Do đó, việc sản xuất và nâng cao sản lượng lúa gạo luôn là vấn đề cấp thiết đối với các quốc gia đang phát triển và phát triển.
Việt Nam là quốc gia có truyền thống trồng lúa từ lâu đời. Sản xuất và xuất khẩu gạo đã đóng góp một phần không nhỏ vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, đưa nước ta trở thành quốc gia đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo và trở thành một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trên thế giới. Đó là nhờ chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong việc định hướng phát triển kinh tế xem nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, các chính sách về cải cách ruộng đất và quyền sở hữu, chính sách phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, chính sách nghiên cứu khoa học và khuyến nông, chính sách tín dụng nông thôn,…Sản xuất lúa gạo của nước ta không ngừng gia tăng về lượng và chất tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế đồng thời giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh trong thời kỳ đổi mới. Phân tích các nhân tố tác động đến tình hình xuất khẩu gạo tại TP.Cần Thơ CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU GẠO CỦA TP.
TỔNG QUAN VỀ TP. Vị trí địa lý và hành chính: Thành phố Cần Thơ là đô thị trực thuộc Trung ương gồm 08 đơn vị hành chính phụ thuộc (4 quận nội thành và 4 huyện ngoại thành). Cần Thơ có diện tích tự nhiên 138.960 ha (chiếm 3,49% diện tích ĐBSCL), trong đó có trên 84% là diện tích đất nông nghiệp (116.992 ha) và dân số 1,12 triệu người. Phía bắc Cần Thơ giáp tỉnh An Giang, nam giáp tỉnh Hậu Giang, tây giáp tỉnh Kiên Giang, đông giáp hai tỉnh Vĩnh Long và Đồng Tháp.
Cần Thơ là thành phố cửa ngõ của cả vùng hạ lưu sông Mê Kông; là trung tâm kinh tế, văn hóa, đầu mối quan trọng về giao thông vận tải nội vùng và liên vận quốc tế của vùng đồng bằng sông Cửu Long và của cả nước. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội: 2.1 Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên: Khí hậu, thời tiết: TP.Cần Thơ nằm trong vùng khí hậu chung của ĐBSCL có đặc điểm là khí hậu phân chia thành rõ rệt 02 mùa: mùa nắng và mùa mưa, tạo thuận lợi cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp hầu như quanh năm. Tài nguyên đất: Đất có đặc điểm chính là nhóm đất phù sa (ít có những hạn chế đối với sản xuất nông nghiệp) chiếm hơn 84% diện tích tự nhiên, hầu hết các loại đất có thành phần cơ giới nặng, hàm lượng các chất dinh dưỡng như mùn và đạm khá đến giàu, lân và kali ở mức trung bình. Điều kiện thổ nhưỡng ở Cần Thơ rất thuận lợi cho thâm canh và đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi.
- 21 - Tài nguyên nước và chế độ thủy văn: Cần Thơ có Sông Hậu là dòng chảy chính qua thành phố trên chiều dài 55 km. Ngoài ra, có mạng lưới kinh rạch làm nhiệm vụ chuyển nước từ sông Hậu xuyên qua nội bàn thành phố qua Biển Tây và bán đảo Cà Mau. Trở ngại chủ yếu của chế độ thuỷ văn là ngập lũ hàng năm (từ tháng 7 đến tháng 11) do lũ tràn về từ sông Hậu và tứ giác long Xuyên vào phía Bắc Cần Thơ, mức ngập trung bình khoảng 50-100cm tập trung ở các huyện Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ…. Tuy nhiên, nguồn nước ngọt có thể tưới quanh năm là ưu thế cơ bản của nguồn tài nguyên nước của TP.Cần Thơ, rất thuận lợi cho việc thâm canh, tăng vụ, rãi vụ nên có thể đáp ứng yêu cầu nông sản hàng hóa của thị trường gần như quanh năm.
Môi trường sinh thái và cảnh quan thiên nhiên: Điều kiện sinh thái đặc trưng cho vùng đất ướt của ĐBSCL, trong đó tài nguyên động vật trên cạn và thuỷ sinh vật khá đa dạng, có tiềm năng khá to lớn cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt.2 Đặc điểm Kinh tế - Xã hội: - Đặc điểm của kinh tế Cần Thơ và vai trò của ngành nông nghiệp: Thành phố Cần Thơ có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, bình quân 5 năm (2001 - 2005) tăng 13,5%. Riêng trong 2 năm (2004 - 2005) tăng bình quân hơn 15%, chủ yếu do các ngành công nghiệp – xây dựng – thương mại - vận tải phát triển rất nhanh. Cơ cấu kinh tế chuyển dần theo hướng công nghiệp hóa. Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp phát triển nhanh, các khu công nghiệp thu hút được nhiều dự án với tổng vốn đăng ký tăng dần.
Các ngành thương mại - dịch vụ phát triển khá nhanh theo hướng đa dạng hóa loại hình, chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả và hướng tới những ngành dịch vụ có giá trị gia tăng lớn với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Khu vực sản xuất nông nghiệp tuy có tăng trưởng (2001-2005: tăng bình quân 7,8%/năm), nhưng tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm dần trong cơ cấu GDP của TP.Cần Thơ, từ 42,6% năm 1995 xuống còn 22,4% năm 2004 và ước tính chỉ còn 19% năm 2005. Sản xuất nông nghiệp đang chuyển dần sang hình thái nông Phân tích các nhân tố tác động đến tình hình xuất khẩu gạo tại TP.Cần Thơ - 22 - nghiệp đô thị, chất lượng cao, nhiều hộ nông dân đạt giá trị sản xuất trên 50 triệu đồng/ha/năm, cá biệt có hộ đạt trên 100 triệu đồng/ha/năm. Nhìn chung, trong khi các khu vực Công nghiệp và Thương mại - Dịch vụ của TP.Cần Thơ đang phát triển nhanh và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế thì khu vực sản xuất nông nghiệp đang phát triển chậm lại, điều này ảnh hưởng nhất định đến 50% dân cư đang sống ở vùng nông thôn ngoại thành (ước tính năm 2005, 46,6% dân số nông nghiệp chỉ tạo ra 19% GDP cho TP.Cần Thơ) khiến cho mức độ phân hóa giàu nghèo tăng cao (mức chênh lệch thu nhập hiện nay giữa người thành thị và nông thôn là 3,7 lần) và sự khác biệt về trình độ phát triển giữa vùng nông thôn ngoại thành và vùng đô thị nội thành ngày càng sâu sắc.
Đặc điểm xã hội và nông thôn TP.Cần Thơ Dân số TP.135,2 ngàn người, trong đó dân số khu vực nông thôn chiếm khoảng 64,8%. Mức độ tăng dân số khá chậm, bình quân chỉ có 1,02%/năm trong 5 năm gần đây. Mặc dù là địa phương có mức đô thị hóa cao nhất vùng ĐBSCL (50%), nhưng ngay tại các quận nội thành và các thị trấn, huyện, vẫn có sự khác biệt lớn về mật độ dân số giữa các khu vực trung tâm và khu vực ngoại vi, phần lớn địa bàn vẫn manh dáng dấp nông thôn. Do đó, điều kiện xã hội hiện nay của thành phố cơ bản vẫn còn thuận lợi cho việc xây dựng một nền sản xuất nông nghiệp đa dạng hóa.
Do tốc độ đô thị hóa cao, dân số nông thôn TP.Cần Thơ giảm nhanh, từ mức giảm 0,42%/năm (giai đoạn 1996-2000) đã giảm đến mức 5,2%/năm (giai đoạn 2001- 2005). Xét cơ cấu dân số hoạt động phi nông nghiệp và nông nghiệp là 34,3% - 65,7% (năm 2000) và 49,94%-50,06% (năm 2005), cho thấy người nông dân chuyển sang các hoạt động công – thương nghiệp và dịch vụ rất nhanh, đặc biệt trong các năm 2004 – 2005. Tuy nhiên, hoạt động nông nghiệp và quy mô nông thôn vẫn còn giữ một vai trò đáng kể trong nền kinh tế - xã hội TP. Tổng số lao động (năm 2005) là 710.337 người, trong đó lao động trong nông nghiệp chiếm 35,9%.
Số lao động qua đào tạo cao nhất ĐBSCL (năm 2000: Phân tích các nhân tố tác động đến tình hình xuất khẩu gạo tại TP.Cần Thơ - 23 - chiếm 11,4% lao động nghề nghiệp), nhưng còn quá thấp so với một số thành phố khác trên cả nước. Với dân số dồi dào về số lượng và chất lượng (7% lao động trong độ tuổi), nếu được đào tạo liên tục trong 10-15 năm nữa đó là nguồn nhân lực nòng cốt cho sự phát triển nông nghiệp TP. Đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật của ngành nông nghiệp TP.Cần Thơ hiện nay có 711 người. Trong đó, trình độ Thạc sỹ là 22 người, Đại học: 157 người, Trung học: 215 người, sơ cấp 317 người.
VAI TRÒ CỦA SẢN XUẤT LÚA GẠO VÀ XUẤT KHẨU GẠO TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TP.CẦN THƠ Ngành trồng trọt giữ vị trí quan trọng trong kinh tế tại TP.Cần Thơ, khu vực 1 (68% giá trị tăng thêm) chiếm khoảng 13% GDP của TP. Giá trị tăng thêm năm 2005 ước đạt 1.100 tỷ đồng, bình quân 1 ha đất canh tác đạt 9,75 triệu đồng (theo giá cố định năm 1994), thuộc loại trung bình khá so với khu vực ĐBSCL. Tổng diện tích canh tác năm 2005 là 112.908 ha, tổng diện tích gieo trồng ước tính khoảng 258.700 ha, hệ số sử dụng đất là 2,29. Trong thời kỳ 2001 – 2005, diện tích canh tác lúa ổn định trong khoảng 93.000 ha, trong đó diện tích gieo trồng tăng khá nhanh, đạt 200.000 ha năm 2005, hệ số sử dụng đất 2,16; năng suất bình quân 5,78 tấn/ha; sản lượng lúa năm 2001 đạt 1.817 tấn và được giữ ổn định ở mức 1.000 tấn trong giai đoạn 2001 – 2005, lương thực bình quân đầu người năm 2005 đạt 1.090kg, thuộc loại khá cao.