Lời mở đầu, Mục lục, Kết luận, Tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn bao gồm 3 chương: Chương T. Thu hut FDI trong sản xuất và chế biến nông sản. Kinh nghiệm quốc tế về thu hut FDI trong lĩnh vực sản xuất và chế biến nông sản. Thực trạng FDI trong sản xuất và chế biến nông sản ở Việt Nam từ năm 1987 đến nay.
Một số quan điểm định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thu hút và sử dụng có hiệu qua nguôn FDI trong sản xuất và chế biến nông sản ở Việt Nam trong thời gian tỚI. CHUONG I THU HUT FDI TRONG SAN XUẤT VA CHE BIEN NONG SAN. KINH NGHIEM QUOC TẾ VE THU HUT FDI TRONG LĨNH VỰC SAN XUAT VA CHE BIEN NONG SAN 1. Dac điểm và vai trò của san xuat va chế biến nông san trong các nước dang phát triển.
Công nghiệp chế biến nông sản là một bộ phận hợp thành của công nghiệp chế biến và là một trong ba loại hoạt động chủ yếu của công nghiệp. Công nghiệp và nông nghiệp có quan hệ với nhau rất khăng khít, phát triển không tách rời nhau. Chế biến nông sản là thực hiện các hoạt động bảo quản, gìn giữ, cải biến và nâng cao giá trị sử dụng của nguyên liệu từ nông nghiệp thong qua quá trình cơ - nhiệt hóa chính vì vậy hoại động chế biến nông sản phụ thuộc nhiều nhất vào nguồn cung cấp nguyên liệu từ nông nghiệp. Do sự khác biệt trong họat động chế biến nông sản giữa các nước không nhiều như trong sản xuất nông sản nên = > đặc điểm của sản xuất và chế biến nông sản ở các nước đang phát triển được biểu hiện tập trung ở đặc điểm của nông nghiệp trong các nước đó.
Dac điểm của nông nghiệp trong các nước dang phát triển Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất quan trọng đốt với tất cả các quốc gia trên thế giới bởi nó cung cấp những nhu yếu phẩm thiết yếu để nuôi sống con người. Sự phát triển của nông nghiệp càng đặc biệt quan trọng hơn đối với các quốc gia dang phát triển. Do trình độ phát triển kinh tế thấp, ty trọng đóng góp của ngành nông nghiệp trong thu nhập quốc dân cao. Thêm nữa, do nông nghiệp là ngành sản suất kinh doanh phụ thuộc nhiều vào tự nhiên nên các nước này còn thường xuyên gặp phải khó khăn trong việc đảm c= bao an ninh lương thực, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống, tạo thêm thu nhập, việc làm, khai thác tốt các nguồn nội lực, những ngưỡng phải vượt qua 9 để đặt nén móng cho sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
Nhìn một cách khái quát nhất thì nông nghiệp ở các nước đang phát triển có một số đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhát: Như đã nói ở trên. đặc điểm noi bat của nông nghiệp ở các nước đang phát triển là phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên. Không giống như các ngành sản xuất khác, đối tượng lao động của nông nghiệp là các cây trồng, vật nuôi. Chúng luôn tuân theo các quy luật sinh học trong quá trình phát triển, điều kiện tự nhiên ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của các đối tượng đó.
Chính vì vậy, việc duy trì một sản lượng hàng hoá nông sản ổn định như dự kiến cùng với quy mô thu nhập ổn định liên tục không phải là vấn dé dé dàng. Ngoài ra, không giống như các nước phát triển về kinh tế, đối với các quốc gia đang phát triển do kinh tế phát triển ở trình độ thấp. thu nhập quốc dân và ngân sách hạn chế nên việc tăng dau tư vào nông nghiệp sặp khá nhiều khó khăn. Cũng vì ít vốn nên việc áp dụng các thành tựu của khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp để giảm bớt sự phụ thuộc của nông nghiệp vào tự nhiên và mang tính thâm canh cao có khoảng cách rất xa so với các nước có trình độ phát triển cao về kinh tế.
Trồng trọt và chăn nuôi ở nhiều vùng trong các quốc gia chậm phát triển còn mang tính quảng canh, dựa vào những ưu đãi của tự nhiên trong khi các nước phát triển do có tiềm năng về vốn, công nghệ trình độ cao, họ đã thực hiện thâm canh, nâng cấp những ưu thế vốn có và tạo ra những ưu thế mới trong nông nghiệp. Điều này phản ánh khả năng chủ động, ít phụ thuộc vào tự nhiên hơn trong sản xuất nông nghiệp của các nước phát triển về kinh tế. Mức độ phụ thuộc vào tự nhiên cao không những gây ra sự bất ổn lớn về thu nhập của bộ phận dân cư đang làm việc và sinh sống ở nông thôn mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, môi sinh và kha nang đáp ứng nhu cầu ngày càng nhiều hơn về những sản phẩm, hàng hóa thiết yếu trong tương lai. 10 Thứ hai, sản xuất và chế biến nông sản ở nhiều nước đang phát triển nhìn chung có trình độ thấp.
Sự phụ thuộc quá nhiều vào điều kiện tự nhiên chừng mực nào đó đã phản ánh điều này. Song vấn dé ở ché, do kỹ thuật sử dụng phổ biến là thủ công, phương pháp canh tác chủ yếu dựa trên những kinh nghiệm truyền thống nên quy mô sản xuất thường là quy mô nhỏ bé, manh mún và phân tán. Lo lang về vấn dé xoá đói , giảm nghèo ở phạm vi cả nước nên nhiều vùng nông nghiệp của quốc gia tập trung vào sản xuất lương thực. Do đó, tình trạng độc canh và độc canh lương thực là cơ cấu sản xuất phổ biến ở nhiều nơi.
TỶ trọng của sản phẩm ngành chan nuôi trong tổng lượng sản phẩm nông sản thấp. Các phương pháp chăn nuôi công nghiệp, kỹ thuật chăm sóc vật nuôi hiệu quả cao ít được nông dân các vùng áp dụng. Sản phẩm của cả ngành trồng trọt lần ngành chăn nuôi đa phần mới đang ở dạng thô, chưa qua chế biến. Do vậy việc tiếp cận, tham gia vào thị trường quốc tế của các sản phẩm nông nghiệp rất khó khăn, số lượng hạn chế, chất lượng không cao, sản phẩm thô khó bảo quản.Những đặc tính đó của hàng hoá nông sản các nước chậm phát triển khó cạnh tranh với các hàng hóa cùng loại của những nước có trình độ phát triển kinh tế cao hơn.
Mặt khác, sản phẩm nông nghiệp khi chưa qua chế biến hầu hết ở dạng tươi sống, chúng được sản xuất ở các vùng có cơ sở hạ tầng yếu kém, có nhiều khó khăn trong việc vận chuyển đi xa, khó bảo quản trong thời gian đài. Trong trường hợp này, sự thiếu vắng những cơ sở chế biến nông sản ở nhiều vùng là yếu tố kìm hãm sự phát triển của sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh những đặc điểm phổ biến nêu trên thì nông nghiệp môi nước lại có những đặc điểm riêng biệt, do những điều kiện lịch sử, xã hội đặc thù ở mỗi nước. Thậm chí điều kiện phát triển nông nghiệp ở trong vùng trong môi nước cũng rất khác nhau do những điều kiện tự nhiên.
xã hội khác nhau. Có nước nên nông nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh tàn II pha, có những nước hiện nay nên nông nghiệp dang trong quá trình chuyển đổi sang sản xuất hàng hóa. Nhưng chung quy lại có thể khang định đối với các quốc gia đang phát triển do trình độ năng lực còn rất nhiều hạn chế thì việc đi lên từ nền móng cơ bản nông nghiệp hay thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp là điều rất cần thiết đối với tất cả các nước. Vai trò của nông nghiệp doi với sự phát triển kinh tế của các quốc gia dang phát triển Với hầu hết các quốc gia dang phát triển, ít nhất xét trong ngăn han phát triển nông nghiệp là nội dung chủ đạo trong việc khác phục tình trạng lạc hậu về kinh tế.
Khác phục tình trạng lạc hậu trong nông nghiệp là yếu tố then chốt để tăng trưởng kinh tế. Trong cuốn "Nguyên lý kinh tế chính trị và thuế”, Ricardo đã cho rằng hạn chế của sự tăng trưởng nông nghiệp sẽ tạo ra giới hạn cận trên cho khu vực phi nông nghiệp và sự hình thành vốn để mở rộng kinh tế. Theo cách hiểu truyền thống, quá trình phát triển kinh tế được coi là sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng giảm tỷ trọng lực lượng lao động và sản lượng nông nghiệp trong tổng lao động sản xuất và tổng sản phẩm quốc đân. Sự chuyển dịch cơ cấu này trước hết phụ thuộc vào sự phát triển của nông nghiệp và sau đó là sự phát triển của các khu vực khác nếu chỉ xét yếu tố nội sinh.
Ở tất cả các quốc gia đang phát triển nông nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong nên kinh tế quốc dân của moi nước. Ở các quốc gia đó nông nghiệp là khu vực giải quyết phan lớn công ăn việc làm cho dan cư trong độ tuổi lao động. Hầu hết các nước trên 70% lực lượng lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp. Hàng năm sự phát triển của nông nghiệp đóng góp phần lớn trong GDP của mỗi nước.
Chính vì vậy sự phát triển của nông nghiệp trở thành yếu tố quan trọng hàng đầu đối với sự phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia này. Vai trò của nông nghiệp đối với sự phát triển kinh tế ở các quốc gia đang phát triển được thể hiện ở các mặt cụ thể sau: Trước tiên nông nghiệp đảm bảo nguồn lương thực, thực phẩm cho đất nước để thực hiện mục tiêu ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân. Vai trò này của nông nghiệp là hoàn toàn không thể phủ nhận ngay cả đối với các quốc gia phát triển. Nông nghiệp là ngành sản xuất cung cấp cho cuộc sống con người những sản phẩm tối cần thiết là lương thực, thực phẩm.
Xã hội ngày càng phát triển, đời sống con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu của họ về lương thực. thực phẩm càng gia tăng cả về số lượng, chất lượng và chủng loại. Đối với các quốc gia đang phát triển, vấn đề an ninh lương thực quốc gia luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu. Muốn khác phục được tình trạng nghèo nàn và lạc hậu trước hết cần phải giải quyết được nạn thiếu lương thực, chấm dứt tình trạng nhập siêu về lương thực quá lớn như hiện nay tại một số nước.
Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các yếu tố đầu vào cho công nghiệp và khu vực dịch vụ. Ở các quốc gia đang phát triển, phần lớn lao động sống bằng nông nghiệp, lao động ở khu vực nông thôn thực sự là nguồn lực dự trữ đồi dào cho các lĩnh vực khác.