Chương 1 Chương 2 Chương 3 Giới thiệu Cơ sở lý thuyết Phương pháp - Bối cảnh nghiên - Cơ sở lý luận nghiên cứu cứu chung - Khung phân - Mục tiêu và câu - Khảo lược các tích hỏi nghiên cứu lý thuyết liên - Thu thập và xử - Đối tượng và quan lý dữ liệu phạm vi nghiên - Thước đo và cứu mô hình kinh tế - Cấu trúc luận văn lượng sử dụng Chương 4 Chương 5 Phân tích thực trạng Kết luận và - Thực tiễn phát triển KTTT ở khuyến nghị Việt Nam - Kết luận hiệu - Phát triển KTTT trên thế giới quả KTTT - Tổng quan tình hình KT-XH - Các nhân tố tỉnh Tây Ninh ảnh hưởng đến - Tổng quan tình hình phát triển hiệu quả KTTT KTTT tỉnh Tây Ninh ở Tây Ninh - Phân tích hiệu quả phát triển - Khuyến nghị KTTT - Các vấn đề cụ thể đặt ra sau các phân tích, đánh giá - Các giải pháp đề xuất 5 CHƯƠNG 2. Cơ sở lý luận chung Hiệu quả kinh tế là một khái niệm được sử dụng phổ biến trong xem xét, đánh giá các ngành sản xuất, có thể hiểu là “Không có hoang phí trong cách sử dụng nguồn lực của nền kinh tế để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ nhằm mang lại lợi ích lớn nhất với chi phí thấp nhất”. Tuy nhiên, với từng ngành kinh tế khác nhau, thì hiệu quả kinh tế được đánh giá bằng các chỉ tiêu khác nhau. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế đầu tiên là lợi nhuận và là chỉ tiêu đánh giá chung đối với ngành nông nghiệp cũng như đối với các ngành khác trong nền kinh tế.
Ngoài ra các chỉ tiêu về thu nhập, doanh thu, chi phí thường được xem xét để đánh giá về quy mô sản xuất, chỉ tiêu về vốn gồm vốn vay và vốn tự có được xem xét nhằm đánh giá khả năng đầu tư mở rộng của ngành. Khảo lược các lý thuyết liên quan 2. Lý thuyết liên quan đến thu nhập Theo Singh and Strauss (1986): Thu nhập của hộ gia đình gồm thu nhập từ nông nghiệp và phi nông nghiệp. Tổng cục Thống kê (2010) định nghĩa: Thu nhập của hộ là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ và các thành viên nhận được trong một khoảng thời gian nhất định.
Scoones (1998) cho rằng những yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình gồm: vốn tự nhiên, vốn tài chính, vốn con người và vốn xã hội. Vốn tự nhiên gồm đất đai, nước, không khí.Vốn tài chính gồm có tiết kiệm và tín dụng cho biết việc tiết kiệm và tiếp cận tín dụng của hộ để đầu tư vào các hoạt động nhằm tạo ra thu nhập. Vốn con người gồm lực lượng lao động, giáo dục, giới tính được phản ánh qua năng suất lao động và hiệu quả công việc. Vốn xã hội có thể hiểu là sự tin tưởng, sự hiểu biết lẫn nhau, chia sẽ, kết nối giữa các thành viên trong cộng đồng.
Bên cạnh đó, Karttunen (2009) cho rằng nguồn lực vốn con người của hộ gia đình và các yếu tố như giới tính, trình độ học vấn, tỷ lệ phụ thuộc đều có ảnh hưởng đến 6 thu nhập của hộ. Theo Park (1992), năng suất lao động là điều kiện để thay đổi thu nhập. Các yếu tố tác động đến năng suất lao động cũng tác động đến thu nhập. Lewis (1954), Oshima (1993) cho rằng các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động trong nông nghiệp bao gồm: quy mô diện tích đất, trình độ cơ giới, trình độ kiến thức nông nghiệp, vốn vay, chi phí giống, phân bón, thuốc trừ sâu.Theo Đinh Phi Hổ (2010), các yếu tố tác động đến thu nhập của nông dân theo mô hình như sau: LnY = Bo + B1LnDT + B2LnMC + B3CA + B4LnKL + B5LnLC + B6LnBC Với: Y (Biến phụ thuộc): Thu nhập Biến độc lập bao gồm: Diện tích đất sản suất của hộ gia đình (DT); Chi phí dịch vụ bằng cơ giới (MC); Vay tiền từ các định chế tín dụng chính thức (CA=1, có vay; CA=0, không vay); Trình độ kiến thức nông nghiệp của chủ hộ (KL); Chi phí lao động (LC); Chi phí sinh học (BC).
Lý thuyết về hàm sản xuất Hàm sản xuất thích hợp ứng dụng phân tích nguồn gốc tăng trưởng trong thực tiễn là hàm Cobb-Douglas, dạng tổng quát có dạng: Y=a Lα Kβ Y: Tổng sản phẩm L: Quy mô về lao động K: Quy mô về vốn sản xuất a: Hệ số tăng trưởng tự định α và β: là các hệ số co dãn từng phần lần lượt theo lao động và vốn. Tổng hệ số co dãn (α + β) cho biết xu hướng của hàm sản xuất về xuất sinh lợi theo quy mô. Lý thuyết lợi thế theo qui mô Theo Robert và Daniel, (1989) vấn đề cốt lõi để tìm ra bản chất của quá trình 7 sản xuất trong dài hạn là đo lường sản lượng gia tăng tương ứng với sự gia tăng của tất cả các yếu tố đầu vào. - Trường hợp hiệu suất kinh tế tăng dần theo quy mô: Có thể xảy ra do các yếu tố như chi phí nghiên cứu, thiết kế, khấu hao.cố định so với sản lượng hoặc chi phí nhiên liệu sử dụng tăng cùng với sản lượng nhưng tỉ lệ thấp hơn.
Ở quy mô lớn cho phép nhà quản lý và công nhân chuyên môn hóa nhiệm vụ của họ, hơn nữa, máy móc thiết bị cũng hoạt động liên tục do không phải tốn thời gian gá lắp. Trường hợp này, tổ chức sản xuất với quy mô lớn sẽ có lợi thế lớn hơn so với quy mô nhỏ. Đối chiếu trong thực tế, với 10 ha đất chỉ cần thuê 1 ca máy để cày đất nhưng với 01 ha đất thì muốn cày vẫn phải thuê 1 ca máy. - Trường hợp hiệu suất không đổi theo quy mô hay đầu ra tăng cùng một tỉ lệ với đầu vào.
- Trường hợp sản lượng có thể tăng với tỉ lệ nhỏ hơn so với tỉ lệ tăng của đầu vào xuất phát từ những yếu tố phúc tạp của quá trình tổ chức và tiến hành sản xuất. Lý thuyết về chuyển giao công nghệ sản xuất trong nông nghiệp Kiến thức về nông nghiệp của nông dân có thể xem như là tổng thể kiến thức về kỹ thuật, kinh tế và cộng đồng mà người nông dân có được và áp dụng vào quá trình sản xuất của mình. Wharton (1959) đưa ra 6 nguyên nhân chính giải thích lý do mà người nông dân nông dân không sẵn lòng áp dụng kỹ thuật mới: -Không biết hoặc không hiểu về kỹ thuật mới do đó không dám áp dụng -Không có đủ năng lực để thực hiện -Không được chấp nhận về mặt tâm lý văn hóa và xã hội do nông dân đã quen theo kiểu sản xuất truyền thống, tính toán dựa trên kinh nghiệm không phải trên giấy. -Không thích nghi: Do không biết kỹ thuật mới có thích nghi với điều kiện địa phương hay không.
8 -Không khả thi về kinh tế: Do chi phí tăng cùng với sản lựơng nhưng lợi nhuận thấp hơn cách tính theo truyền thống. -Không sẵn có điều kiện để áp dụng. Như vậy trong 6 yếu tố ảnh hưởng chính thì có 3 yếu tố là do kiến thức yếu của nông dân. Ngoài những yếu tố đầu vào quan trọng như cây giống, phân bón, thuốc trừ sâu, vốn thì kiến thức nông nghiệp rất quan trọng trong quá trình sản xuất của nông dân.
Lý thuyết về vốn trong nông nghiệp -Mô hình Harrod-Domar Là toàn bộ tiền đầu tư, mua hoặc thuê các yếu tố nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp, được phân thành vốn cố định và vốn lưu động: -Vốn cố định: Biểu hiện bằng tiền giá trị đầu tư vào tài sản cố định như tư liệu lao động có giá trị lớn, giá trị của nó được chuyển dần sang giá trị sản phẩm sản xuất ra theo mức độ hao mòn như máy móc, nhà kho, sân phơi, vườn cây lâu năm. -Vốn lưu động: Biểu hiện bằng tiền đầu tư vào tài sản lưu động có giá trị nhỏ được sử dụng trong thời gian ngắn như: phân bón, nguyên vật liệu, thuốc trừ sâu. Harrod (1939)-Domar (1946) cho rằng nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế chính là lượng vốn sản xuất tăng thêm có được từ đầu tư và tiết kiệm của quốc gia. Với trang trại nếu tích lũy nguồn vốn tự có kết hợp vốn vay và đầu tư hợp lý thì năng suất lao động và tổng giá trị sản lượng sẽ tăng.
Lý thuyết mô hình kinh tế hai khu vực Luận điểm cơ bản của mô hình này cho rằng nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế là do khả năng thu hút lao động của khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp. - Mô hình Lewis (1954): Do khu vực nông nghiệp đất đai ngày càng khan hiếm trong khi lao động ngày càng tăng dẫn đến tình trạng dư thừa lao động trong khu vực này. Lao động có thể giảm đi nhưng không ảnh hưởng đến tổng sản phẩm 9 nông nghiệp trong khi mức tiền lương của khu vực công nghiệp cao hơn. Vì tiền lương trong ngắn hạn không đổi trong khi tổng sản phẩm tăng làm cho lợi nhuận của nhà sản xuất công nghiệp tăng, từ đó giúp tăng tích lũy và thúc đẩy tái sản xuất mở rộng.
Nhưng nếu vẫn tiếp tục thu hút lao động thì đến một lúc nào đó tiền lương sẽ tăng và lợi nhuận của khu vực này sẽ giảm đi. Mô hình Lewis cho thấy tăng trưởng của nền kinh tế dựa trên cơ sở của tăng trưởng công nghiệp thông qua tích lũy vốn và thu hút lao động dư thừa của khu vực nông nghiệp. Vì vậy, nông nghiệp cần phát triển theo hướng nâng cao năng suất lao động và kinh tế trang trại có thể đáp ứng được yêu cầu này. - Mô hình Harry T.Oshima (1993): Cho rằng khu vực nông nghiệp chỉ dư thừa lao động lúc thời vụ không căng thẳng và đầu tư chiều sâu cho cả nông nghiệp và công nghiệp là không khả thi vì nguồn lực và trình độ lao động của các nước đang phát triển.
Theo ông: Giai đoạn một, đầu tư cho nông nghiệp theo chiều rộng nhằm đa dạng hóa sản xuất và thu hút lao động do không đòi hỏi vốn lớn và trình độ kỹ thuật không cao. Đồng thời khi đó nông nghiệp mở rộng sản lượng và xuất khẩu tạo ngoại tệ để nhập khẩu máy móc, thiết bị cho các ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động. Kết thúc giai đoạn 1, nông nghiệp có chủng loại nông sản đa dạng với qui mô lớn và đòi hỏi công nghiệp chế biến phát triển hơn. Giai đoạn 2 đồng thời đầu tư phát triển theo chiều rộng cả nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ nhằm mở rộng qui mô sản lượng.