Tổng quan nghiên cứu

Thị trường nông sản chất lượng cao tại Việt Nam đang chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ về nhu cầu tiêu thụ các loại trái cây đặc sản có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Tại thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, cây nhãn đã khẳng định vị thế là cây trồng chủ lực trong chiến lược chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Theo thống kê giai đoạn 2016-2018, diện tích canh tác nhãn toàn thị xã tăng trưởng từ 3.321 ha lên 5.030 ha, đưa sản lượng năm 2018 đạt mốc 2.153 tấn, tăng 28,7% so với năm 2017. Tuy nhiên, ngành hàng nhãn Phổ Yên vẫn đối mặt với nghịch lý được mùa rớt giá, quy mô sản xuất phân tán và liên kết thị trường lỏng lẻo. Phần lớn sản lượng nhãn tươi phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống thương lái thu mua nhỏ lẻ, khiến giá trị gia tăng bị thất thoát và sức cạnh tranh của nông sản địa phương còn nhiều hạn chế.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận về chuỗi giá trị nông sản, phân tích thực trạng các mối liên kết giữa các tác nhân từ khâu cung ứng vật tư, canh tác, thu gom đến phân phối tiêu thụ nhãn tại thị xã Phổ Yên. Trên cơ sở đó, đề tài xác định những nút thắt cản trở dòng chảy giá trị và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế chuỗi ngành hàng. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung tại vùng sản xuất trọng điểm xã Phúc Thuận cùng các đầu mối tiêu thụ chính ở phường Ba Hàng, phường Bãi Bông và xã Trung Thành. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp trong giai đoạn 2016-2018 và dữ liệu sơ cấp được thu thập thực địa trong năm 2019. Kết quả nghiên cứu là luận cứ khoa học giúp địa phương nâng cao giá trị kinh tế trên 1 ha canh tác đạt mức 300 đến 350 triệu đồng mỗi năm, đồng thời hỗ trợ 7,6% hộ nghèo còn lại tại xã Phúc Thuận vươn lên thoát nghèo bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phân tích chuỗi giá trị hiện đại của Kaplinsky và Morris (2001), tập trung vào việc lập sơ đồ chuỗi, phân tích dòng sản phẩm, dòng thông tin, cơ chế quản trị và phân phối giá trị gia tăng giữa các tác nhân. Khung phân tích lợi thế cạnh tranh của Michael Porter (1985) được vận dụng để xác định các hoạt động sơ cấp và bổ trợ nhằm tối ưu hóa chi phí trung gian và tạo sự khác biệt cho nông sản đặc sản. Định nghĩa chuỗi giá trị nông sản của FAO (2010) cùng mô hình tích hợp chuỗi cung ứng của Lambert và Cooper (2000) cung cấp góc nhìn toàn diện về mạng lưới liên kết từ nông trại đến bàn ăn.

Khung lý thuyết của đề tài xoay quanh các khái niệm then chốt: Tác nhân chuỗi giá trị (bao gồm hộ nông dân, thương lái thu gom, cơ sở bán lẻ và người tiêu dùng); Liên kết ngang giữa các hộ sản xuất theo tinh thần Nghị định số 151/2007/NĐ-CP của Chính phủ nhằm giảm thiểu chi phí đầu vào và tăng quy mô hàng hóa; Liên kết dọc giữa nông dân và doanh nghiệp tiêu thụ theo Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nhằm bảo đảm tính pháp lý của hợp đồng bao tiêu; Bản đồ chuỗi giá trị; Giá trị sản xuất (GO); Chi phí trung gian (IC); Giá trị gia tăng (VA); và Thu nhập hỗn hợp (MI) phản ánh kết quả tài chính thực chất của hộ sản xuất.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê thị xã Phổ Yên giai đoạn 2016-2018, các báo cáo tổng kết của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên, văn bản chính sách và cổng thông tin điện tử địa phương. Dữ liệu sơ cấp được điều tra trực tiếp trong năm 2019 thông qua bảng hỏi bán cấu trúc và phỏng vấn chuyên sâu các tác nhân tham gia chuỗi.

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 75 đối tượng được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên. Cụ thể: 35 hộ trồng nhãn tại xã Phúc Thuận (nơi có diện tích tập trung trên 200 ha tại các xóm Khe Đù, Khe Lánh, Quân Xóm); 20 thương lái thu gom tại phường Ba Hàng và phường Bãi Bông; 10 cơ sở kinh doanh, bán lẻ tại chợ Ba Hàng, chợ Hồng Tiến và chợ Thanh Xuyên; cùng 10 người tiêu dùng cuối cùng. Phương pháp chọn mẫu này đảm bảo tính đại diện cao cho toàn bộ các khâu luân chuyển hàng hóa.

Phương pháp xử lý và phân tích số liệu sử dụng công cụ Microsoft Excel để thực hiện thống kê mô tả, phân tổ thống kê và thống kê so sánh các chỉ tiêu kinh tế như GO, IC, VA, MI. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này là nhằm định lượng chính xác chi phí, doanh thu và mức độ chênh lệch lợi nhuận giữa từng mắt xích. Đồng thời, ma trận phân tích SWOT được ứng dụng để đánh giá toàn diện điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của từng tác nhân, tạo tiền đề vững chắc cho việc hoạch định chiến lược phát triển.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô sản xuất và năng suất nhãn tại Phổ Yên có bước tăng trưởng vượt bậc nhưng thiếu tính ổn định lâu dài. Giai đoạn 2016-2018, tổng diện tích trồng nhãn tăng 51,46% (từ 3.321 ha lên 5.030 ha), trong đó diện tích cho thu hoạch kinh doanh năm 2018 đạt 2.529 ha và diện tích trồng mới là 2.160 ha. Sản lượng toàn thị xã tăng 44,01%, từ 1.495 tấn năm 2016 lên 2.153 tấn năm 2018, với năng suất bình quân tăng từ 0,65 tấn/ha lên 0,75 tấn/ha. Sự gia tăng diện tích trồng mới chủ yếu là giống nhãn Miền và nhãn chín muộn (đạt 500 ha năm 2018), giúp kéo dài thời vụ và nâng cao hiệu quả kinh tế.

Thứ hai, chuỗi giá trị nhãn tồn tại 3 kênh phân phối chính nhưng dòng lưu chuyển hàng hóa phụ thuộc nặng nề vào tác nhân trung gian. Kênh 1 chiếm khoảng 85% tổng sản lượng nhãn tươi: Nông dân -> Thương lái thu gom -> Cơ sở bán lẻ tại các chợ -> Người tiêu dùng. Kênh 2 chiếm khoảng 10%: Nông dân -> Cơ sở bán buôn/bán lẻ tại chợ địa phương -> Người tiêu dùng. Kênh 3 chỉ chiếm khoảng 5%: Nông dân tự chế biến long nhãn sấy khô -> Người tiêu dùng hoặc bán trực tiếp tại vườn. Hoạt động liên kết tiêu thụ với siêu thị, chuỗi cửa hàng thực phẩm sạch hay doanh nghiệp chế biến công nghiệp gần như chưa được thiết lập.

Thứ ba, sự phân bổ chi phí và giá trị gia tăng có sự bất cân xứng rõ rệt giữa các tác nhân. Hộ nông dân là mắt xích chịu rủi ro cao nhất về thời tiết, sâu bệnh và chi phí vật tư ban đầu, tạo ra mức thu nhập từ 300 đến 350 triệu đồng/ha/năm với nhãn chính vụ và 250 triệu đồng/ha/năm với nhãn chín muộn. Tuy nhiên, khi quy đổi trên 1.000 kg sản phẩm, khâu thu gom và bán lẻ đạt tỷ suất lợi nhuận biên trên chi phí cao hơn từ 15% đến 20% so với người sản xuất, do thương lái nắm giữ ưu thế quyết định giá mua tại vườn.

Thảo luận kết quả

Thực trạng bất cân xứng lợi ích bắt nguồn từ nguyên nhân nông dân canh tác phân tán, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật chưa đồng bộ khiến mẫu mã sản phẩm chưa đồng đều. Tỷ lệ nông dân áp dụng quy trình tiêu chuẩn VietGAP chỉ chiếm dưới 25% diện tích. Hơn nữa, việc thiếu hụt cơ sở bảo quản lạnh khiến nhãn tươi phải tiêu thụ gấp trong vòng 3 đến 4 tuần của vụ thu hoạch, tạo áp lực dư thừa nguồn cung cục bộ và dẫn đến tình trạng bị ép giá bán từ 8.000 đồng/kg xuống mức thấp hơn vào thời điểm rộ mùa.

Kết quả nghiên cứu này tương đồng với các công bố khoa học của Trần Tiến Khai khi phân tích chuỗi giá trị dừa Bến Tre và Lê Thị Minh Nguyệt khi nghiên cứu chuỗi giá trị cam Quang Thuận, khẳng định rằng khi chuỗi thiếu vắng vai trò điều phối của hợp tác xã hoặc doanh nghiệp đầu chuỗi, người sản xuất sơ cấp luôn ở thế yếu trong việc thương lượng giá.

Để minh họa trực quan dòng lưu chuyển giá trị, dữ liệu nghiên cứu có thể được biểu diễn qua biểu đồ phân luồng sản phẩm và bảng cân đối kinh tế 4 chỉ số (GO, IC, VA, MI). Bảng số liệu so sánh chi phí và lợi nhuận trên 1.000 kg nhãn tươi giữa hộ trồng, người thu gom và cơ sở bán lẻ làm nổi bật rõ nét khoảng cách chênh lệch biên lợi nhuận, cung cấp bằng chứng thuyết phục cho yêu cầu phải tái cấu trúc chuỗi giá trị ngành hàng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình canh tác công nghệ cao và mở rộng diện tích đạt chứng nhận VietGAP. Phòng Kinh tế thị xã Phổ Yên chủ trì phối hợp với Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp tổ chức các lớp chuyển giao kỹ thuật cắt tỉa, khoanh vỏ kích thích ra hoa và phòng trừ sâu bệnh sinh học. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ diện tích nhãn đạt chuẩn VietGAP lên 60% vào năm 2022 và nâng năng suất bình quân toàn thị xã từ 0,75 tấn/ha lên trên 1,10 tấn/ha.

Thứ hai, xác lập quyền sở hữu trí tuệ và quảng bá thương hiệu nhãn Phúc Thuận. Ủy ban nhân dân thị xã Phổ Yên cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên cần khẩn trương hoàn thiện hồ sơ đăng ký nhãn hiệu chứng nhận và chỉ dẫn địa lý cho vùng nhãn Phúc Thuận trước năm 2021. Việc gắn tem truy xuất nguồn gốc điện tử QR code kỳ vọng sẽ nâng giá bán bình quân từ 10.000 đồng/kg lên mức 18.000 đến 22.000 đồng/kg tại các thị trường đô thị lớn.

Thứ ba, tái cơ cấu mô hình kinh tế tập thể và phát triển liên kết dọc bền vững. Hội Nông dân thị xã cần thúc đẩy thành lập các hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới tại xã Phúc Thuận, thu hút tối thiểu 80 hộ nông dân tham gia trong giai đoạn 2020-2023. Hợp tác xã giữ vai trò đại diện ký kết hợp đồng tiêu thụ theo Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg với các hệ thống phân phối hiện đại, cam kết bao tiêu tối thiểu 40% sản lượng toàn vùng.

Thứ tư, xây dựng cơ sở sơ chế, bảo quản lạnh và chế biến sâu tại vùng quy hoạch 371 ha. Ban Quản lý các dự án đầu tư thị xã cần kêu gọi doanh nghiệp đầu tư lắp đặt dây chuyền sấy long nhãn công nghệ nhiệt kín và hệ thống kho lạnh bảo quản nông sản tươi. Mục tiêu đến năm 2025 nâng tỷ lệ nhãn qua chế biến đạt 30% tổng sản lượng, giúp giảm tỷ lệ hư hao sau thu hoạch từ mức 18% hiện nay xuống dưới 7%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và ban ngành hoạch định chính sách tại địa phương. Cán bộ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Kinh tế, Trạm Khuyến nông có thể sử dụng số liệu thực trạng diện tích 5.030 ha và phân tích SWOT trong luận văn làm cơ sở điều chỉnh quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao 371 ha tại Phúc Thuận.

Nhóm 2: Nông dân, chủ trang trại và ban giám đốc các hợp tác xã nông nghiệp. Người sản xuất nắm bắt được cấu trúc chi phí trung gian (IC) và giá trị gia tăng (VA) để tính toán điểm hòa vốn, chuyển đổi sang giống nhãn chín muộn nhằm mang lại nguồn thu ổn định trên 250 đến 350 triệu đồng/ha mỗi năm.

Nhóm 3: Doanh nghiệp chế biến, thương nhân thu mua và nhà phân phối bán lẻ. Các đơn vị kinh doanh hoa quả tại chợ Ba Hàng, chợ Hồng Tiến, siêu thị và chuỗi thực phẩm sạch có thể nắm rõ 3 kênh lưu chuyển sản phẩm để thiết lập mạng lưới thu gom trực tiếp tại vườn, cắt giảm chi phí trung gian và tối ưu hóa biên lợi nhuận.

Nhóm 4: Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Luận văn cung cấp tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận phân tích chuỗi giá trị theo Kaplinsky và Morris, quy trình khảo sát 75 mẫu thực địa và kỹ thuật xử lý dữ liệu định lượng phục vụ các công trình nghiên cứu cùng chủ đề.

Câu hỏi thường gặp

Đâu là nguyên nhân cốt lõi khiến người trồng nhãn Phổ Yên thường gặp tình cảnh được mùa rớt giá? Nguyên nhân chủ yếu do hơn 85% sản lượng thu hoạch rộ trong 3-4 tuần và bán tươi trực tiếp cho thương lái. Do thiếu công nghệ bảo quản lạnh và cơ sở chế biến sâu, nông dân chịu áp lực phải bán tháo, khiến giá có thời điểm giảm sâu dưới 8.000 đồng/kg dù tổng sản lượng thị xã đạt 2.153 tấn.

Việc chuyển đổi sang giống nhãn Miền và nhãn chín muộn mang lại hiệu quả kinh tế ra sao? Giống nhãn Miền cho quả sớm và nhãn muộn giúp rải vụ thu hoạch, giảm áp lực cạnh tranh mùa cao điểm. Mô hình nhãn chín sớm mang lại doanh thu 300 đến 350 triệu đồng/ha/năm, trong khi nhãn muộn đạt 250 triệu đồng/ha/năm, duy trì giá bán ổn định từ 15.000 đến 20.000 đồng/kg, cao hơn 40% so với chính vụ.

Cơ cấu mẫu khảo sát 75 đối tượng của đề tài được phân bổ như thế nào để đảm bảo tính khoa học? Mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp phân tầng ngẫu nhiên gồm 35 hộ trồng nhãn tại Phúc Thuận, 20 thương lái tại Ba Hàng và Bãi Bông, 10 chủ sạp kinh doanh tại 3 chợ đầu mối và 10 người tiêu dùng. Cấu trúc này phản ánh đầy đủ mọi góc nhìn từ khâu sản xuất sơ cấp đến tiêu dùng cuối cùng.

Những chính sách nào được vận dụng để thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị trong nghiên cứu? Đề tài vận dụng Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nhằm tạo hành lang pháp lý cho hợp đồng tiêu thụ nông sản liên kết dọc, cùng Nghị định số 151/2007/NĐ-CP về tổ hợp tác nhằm củng cố liên kết ngang, nâng cao vị thế đàm phán thị trường cho hơn 3.500 hộ dân tại xã Phúc Thuận.

Giải pháp chế biến sau thu hoạch được đề xuất triển khai như thế nào để gia tăng giá trị sản phẩm? Luận văn đề xuất đầu tư hệ thống lò sấy nhiệt sạch công nghiệp tại vùng dự án tập trung 371 ha của xã Phúc Thuận để sản xuất long nhãn xuất khẩu. Giải pháp này giúp giảm tổn thất sau thu hoạch từ 18% xuống dưới 7%, đồng thời gia tăng giá trị nông sản chế biến lên gấp 2,5 lần so với bán quả tươi.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng sản xuất và tiêu thụ nhãn tại thị xã Phổ Yên giai đoạn 2016-2018 với quy mô diện tích đạt 5.030 ha và sản lượng 2.153 tấn.
  • Xác định rõ cấu trúc 3 kênh phân phối chính, chỉ ra sự phụ thuộc lớn vào kênh thương lái thu gom chiếm tới 85% tổng sản lượng lưu thông trên thị trường.
  • Định lượng chi tiết sự bất bình đẳng trong phân bổ giá trị gia tăng, chỉ ra rằng các tác nhân thương mại trung gian hưởng biên lợi nhuận cao hơn hộ sản xuất từ 15% đến 20%.
  • Vận dụng ma trận SWOT để làm sáng tỏ các điểm nghẽn kỹ thuật canh tác, bảo quản sau thu hoạch và mở ra cơ hội xây dựng vùng nông nghiệp công nghệ cao quy mô 371 ha.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi nhằm thúc đẩy liên kết chuỗi, xây dựng thương hiệu nhãn Phúc Thuận và nâng cao thu nhập cho nông dân đạt trên 350 triệu đồng/ha/năm.

Về lộ trình tiếp theo, chính quyền thị xã Phổ Yên và người dân Phúc Thuận cần khẩn trương thực hiện thí điểm chuẩn hóa VietGAP giai đoạn 2020-2022 và hoàn tất bảo hộ nhãn hiệu tập thể trước năm 2023. Các nhà quản lý, doanh nghiệp và nhà nghiên cứu quan tâm có thể liên hệ tham khảo toàn văn luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thanh Thủy tại Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên để đồng hành ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững.