Chương 1: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn. Chương này trình bày khung lý thuyết về phát triển bền vững nông nghiệp: (1)Phát triển nông nghiệp bền vững; (2)mối quan hệ giữa tăng trưởng nông nghiệp và môi trường tự nhiên; (3)tăng trưởng nông nghiệp và con người ở nông thôn, (4)tăng trưởng nông nghiệp và sự nghèo ñói ở nông thôn (5)Nông nghiệp trong tiến trình hội nhập WTO. Chương 2: Hiện trạng phát triển nông nghiệp ở Hải Phòng trong giai ñoạn từ năm 2000 – 2007: Chương này phân tích hiện trạng phát triển nông nghiệp và ñánh giá xu hướng phát triển nông nghiệp bền vững ở Hải Phòng trong giai ñoạn 2000 - 2007: (1)ðặc ñiểm tự nhiên kinh tế xã hội; (2)Cơ sở hạ tầng; (3)hiện trạng phát triển nông nghiệp theo ñịnh hướng thị trường; (4)phát triển nông nghiệp theo hướng bảo vệ môi trường và (5)sự tham gia của người dân. Trên cơ sở ñó phân tích ñiểm mạnh, ñiểm yếu, cơ hội và thách thức ñể phát triển nông nghiệp Hải Phòng theo hướng bền vững.
6 Chương 3: Một số giải pháp góp phần phát triển bền vững nông trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế nghiệp ở Hải Phòng: chương này ñề cập ñến một số giải pháp góp phần phát triển bền vững nông nghiệp ở Hải Phòng bao gồm: (1)giải pháp về qui hoạch và tổ chức sản xuất:; (2)giải pháp nguồn nhân lực; (3)giải pháp về thị trường tiêu thụ sản phẩm; (4)giải pháp về cơ chế chính sách. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN Chương này trình bày một số khái niệm có liên quan ñến vấn ñề nghiên cứu như: (1)Phát triển bền vững nông nghiệp; (2)Nông nghiệp trong tiến trình hội nhập WTO. ðồng thời trình bày một số kết quả nghiên cứu trước ñây có liên quan ñến các mối quan hệ ràng buộc trong phát triển nông nghiệp bền vững: (1)Phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng nông nghiệp và môi trường tự nhiên; (2)tăng trưởng nông nghiệp và con người ở nông thôn, (3)tăng trưởng nông nghiệp và sự nghèo ñói ở nông thôn từ ñó phân tích các chỉ tiêu về phát triển nông nghiệp bền vững trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ñược sử dụng trong nghiên cứu này.1 Lý thuyết phát triển bền vững trong nông nghiệp 1.1 Phát triển nông nghiệp bền vững Tuỳ theo từng giai ñoạn, có rất nhiều khái niệm khác nhau về phát triển nông nghiệp bền vững. Trong giai ñoạn ñầu của thập niên 80; Theo Douglass1; tuỳ theo từng khía cạnh khác nhau mà nông nghiệp bền vững ñược hiểu khác nhau: Trên khía cạnh kinh tế kỹ thuật: Tăng trưởng nông nghiệp bền vững nhấn mạnh ñến việc duy trì tăng năng suất lao ñộng trong dài hạn; Trên khía cạnh sinh thái: Một hệ thống nông nghiệp làm suy yếu, ô nhiễm, phá vỡ cân bằng sinh thái của hệ thống tư nhiên một cách không cần thiết thì hệ thống nông nghiệp ñó không bền vững Về khía cạnh môi trường con người: Một hệ thống nông nghiệp không cải thiện ñược trình ñộ giáo dục, sức khoẻ và dinh dưỡng của người dân nông thôn thì hệ thống ñó không ñược coi là bền vững.
1 Trích trong ðinh Phi Hổ và Lê Thị Thanh Tùng (2002). Phát triển nông nghiệp bền vững: nền tảng lý thuyết và gợi ý chính sách. Tạp chí phát triển kinh tế, tháng 01 năm 2002 – [2; tr 20] 8 Năm 1987, Uỷ ban phát triển và môi trường thế giới ñưa ra ñịnh nghĩa: “Phát triển bền vững là phát triển ñáp ứng ñược những nhu cầu hiện tại nhưng không làm tổn thương năng lực ñáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai”2. ðịnh nghĩa này nhanh chóng ñược phổ biến và áp dụng trên nhiều nước vì nó nhấn mạnh ñến vấn ñề cắt giảm tiêu dùng hiện tại ñể không bị ảnh hưởng ñến tiêu dùng trong tương lai.
Tuy nhiên, tại thời ñiểm này mức thu nhập khá thấp và người dân còn nghèo ñói nên ñịnh nghĩa này không ñược ủng hộ nhiều. Do ñó, khi nền kinh tế thế giới còn nghèo ñói thì sản xuất nông nghiệp bền vững là sản xuất ñáp ứng ñủ nhu cầu tăng nhanh về lương thực - thực phẩm và ñảm bảo cho giá giảm dần. Năm 1990, Pearce và Turner cho rằng phát triển nông nghiệp bền vững là tối ña hoá lợi ích của phát triển kinh tế trên cơ sở ràng buộc về duy trì chất lượng của nguồn lực tự nhiên theo thời gian3. Phát triển nông nghiệp bền vững tuân thủ theo các quy luật: (1)ñối với những tài nguyên có thể tái sinh (rừng, ñất, lao ñộng.) việc sử dụng các nguồn lực này phải ñảm bảo thấp hơn mức tái sinh tự nhiên; (2)ñối với tài nguyên không tái sinh ñược (máy móc, vật tư nông nghiệp); việc sử dụng hiệu quả phụ thuộc vào khả năng thay thế của nguồn lực này (ví dụ: tăng sản lượng bằng phân bón hoặc giống mới thay cho tăng sản lượng bằng cách tăng diện tích).
Như vậy, chưa có sự thống nhất về ñịnh nghĩa của nông nghiệp bền vững giữa các nhà kinh tế học. Hiện nay, khái niệm nông nghiệp bền vững ñược nhiều người chấp nhận nhất là khái niệm ñược FAO ñưa ra năm 1989: “Phát triển bền vững là việc quản lí và bảo tồn cơ sở tài nguyên thiên nhiên, ñịnh hướng thay ñổi công nghệ và thể chế theo một phương thức sao cho ñạt ñến sự thoả mãn một cách liên tục những nhu cầu của con người của những thế hệ hôm nay và mai sau. Sự phát triển như vậy trong lĩnh vực nông nghiệp (nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản) chính là sự bảo tồn ñất, nước, 2 Trích trong ðinh Phi Hổ và Lê Thị Thanh Tùng (2002). 3 Trích trong ðinh Phi Hổ và Lê Thị Thanh Tùng (2002).
9 các nguồn gen và thực vật, không bị suy thoái môi trường, kỹ thuật thích hợp, sinh lợi kinh tế và chấp nhận về mặt xã hội”4. Phát triển nông nghiệp bền vững là mô hình phát triển mà trong ñó có sự ràng buộc giữa tăng trưởng nông nghiệp với môi trường tự nhiên và sự nghèo ñói, môi trường con người ở nông thôn. Do ñó, ñể nắm ñược bản chất của phát triển nông nghiệp bền vững, cần phải phân tích các mối quan hệ này 1.2 Tăng trưởng nông nghiệp và môi trường tự nhiên Mong muốn phát triển nông nghiệp mà không ảnh hưởng ñến môi trường tự nhiên là không thực tế. “theo Haen (1991), tất cả các dạng, hình thức của sản xuất nông nghiệp ñều liên quan ñến sự biến ñổi của một hệ sinh thái”5.
Sản xuất nông nghiệp lệ thuộc vào ñộ màu mỡ của ñất ñai, chất lượng của nguồn nước và khí hậu… vì vậy sản xuất nông nghiệp bền vững phản ánh mong muốn của xã hội về giữ gìn môi trường tự nhiên và lợi ích của sản xuất nông nghiệp. Vấn ñề quan trọng nhất là phải cân nhắc, lựa chọn phương án sao cho cân bằng ñược giữa lợi ích kinh tế từ phát triển nông nghiệp và lợi ích của môi trường tự nhiên với chức năng cân bằng sinh thái. Các nước phát triển ñã và ñang ñịnh hướng phát triển nông nghiệp nhấn mạnh ñến vấn ñề sinh thái. Nguyên nhân không phải vì nhu cầu về nông sản giảm mà vì sản xuất nông nghiệp ñã phá huỷ nghiêm trọng môi trường sinh thái: huỷ diệt nhiều sinh vật, thay ñổi về khí hậu, suy thoái hệ thống ñất, nguồn nước.
Theo báo cáo của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) (2006): “ðất khô hạn có ở mọi khu vực, chiếm hơn 40% bề mặt Trái ñất và là nơi sinh sống của gần 2 tỷ người - 1/3 dân số thế giới. Trên thế giới có khoảng 10-20% diện tích ñất khô hạn ñã bị suy thoái ñặc biệt ở các nước ñang phát triển. Tổng diện tích ñất bị 4 Trích trong Hồ ðức Hùng (2005). Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ở tỉnh Vĩnh Long – Vấn ñề và giải pháp.
Chuyên ñề nghiên cứu khoa học phục vụ ñại hội ñảng bộ tỉnh Vĩnh Long lần thứ 8, tháng 10/2005; [3, tr13;14] 5 Trích trong: ðinh Phi Hổ và Lê Thị Thanh Tùng (2002). 10 ảnh hưởng do quá trình hoang mạc hóa từ 6 - 12 triệu km2 (so với diện tích của các nước Brazil, Canada và Trung Quốc cộng lại từ 8 - 10 triệu km2)6. Tình trạng suy thoái nguồn nước và ñất nông nghiệp chủ yếu do sự kém chất lượng của các công trình thuỷ lợi và phá huỷ rừng một cách trầm trọng. Ngày nay, sự phát triển nông nghiệp không chỉ theo quảng canh (tăng sản lượng bằng cách tăng diện tích canh tác) mà chủ yếu là theo thâm canh (tăng sản lượng từ việc thâm canh trên một ñơn vị diện tích và tăng vụ ñối với diện tích ñược tưới tiêu chủ ñộng) do ñó nguyên nhân chính của sự mất cân bằng sinh thái là do phương thức sản xuất chứ không phải do tốc ñộ phát triển trong nông nghiệp.
Như vậy, phương thức thâm canh tốt có thể bổ sung và tạo cân bằng chất dinh dưỡng cho ñất. Nếu ñầu tư phát triển hệ thống thuỷ lợi ñủ về số lượng và chất lượng ñồng thời sử dụng các loại thuốc trừ sâu ñúng liều lượng và chủng loại có thể ngăn chặn tình trạng nhiễm ñộc nguồn nước và nhiễm mặn, khôi phục và bảo vệ rừng sẽ hạn chế tình trạng lũ lụt cũng như sự biến ñổi của khí hậu. Do yêu cầu về nguyên liệu, lương thực và nhu cầu xuất khẩu ngày càng cao trong tiến trình công nghiệp hoá và nâng cao thu nhập cho người nông dân, tăng trưởng nhanh và ổn ñịnh là cần thiết, tuy nhiên tăng trưởng nhanh cần phải ñảm bảo ổn ñịnh môi trường sinh thái.3 Tăng trưởng nông nghiệp và nghèo ñói ở nông thôn “Theo Rao C.H và Chopra K (1991), ñề cập ñến mối quan hệ giữa tăng trưởng nông nghiệp – suy thoái môi trường – nghèo ñói nông thôn”7. Hai phương thức ñược thực hiện chủ yếu trong nông nghiệp là quảng canh và thâm canh.
ðối với phương thức quảng canh (tăng sản lượng chủ yếu do tăng diện tích), do bóc lột chất dinh dưỡng tự nhiên trong ñất, mở rộng diện tích ñất sản xuất chủ yếu dựa vào phá rừng. Trong ngắn hạn nông nghiệp tăng trưởng nhưng trong dài 6 Thế giới với vấn ñề sa mạc và hoang mạc hóa - http://www.vn/tapchi/toanvan/05-2k6-36.htm [7] 7 Trích trong: ðinh Phi Hổ và Lê Thị Thanh Tùng (2002) 11 hạn khi môi trường tự nhiên bị suy thoái, thu nhập giảm xuống cùng với sư gia tăng dân số dẫn ñến nghèo ñói và thất nghiệp. Với phương thức thâm canh (tăng năng suất bằng cách tăng lượng các yếu tố ñầu vào do ngành hoá chất cung ứng: phân ñạm, thuốc trừ sâu, lai tạo giống…), thường dẫn tới tình trạng lạm dụng các hoá chất ñể tăng trưởng dẫn ñến suy thoái tài nguyên ñất và nước.