Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn. 5 Chương 2: Thực trạng phát triển tiểu thủ công nghiệp tại huyện N am Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển tiểu thủ công nghiệp tại huyện N am Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế. 6 PHẦ II: ỘI DU G GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: CƠ SỞ LÝ LUẬ VÀ THỰC TIỄ VỀ PHÁT TRIỂ TIỂU THỦ CÔ G GHIỆP Ở Ô G THÔ 1.
Lý luận về phát triển tiểu thủ công nghiệp 1. Khái niệm tiểu thủ công nghiệp Theo các nhà Kinh tế học Liên Xô (cũ) thì: “thủ công nghiệp là sản xuất thủ công sử dụng lao động thô sơ chế biến nguyên liệu thành sản phNm”. Vào thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa, thuật ngữ Tiểu công nghiệp và Thủ công nghiệp để chỉ cơ sở sản xuất ngoài quốc doanh [16]. Trên thế giới, người ta quan niệm thủ công nghiệp như là một thành phần, một dạng thức, một kiểu loại tiểu công nghiệp.
Quan niệm đó đến nay vẫn thống nhất không có sự tranh luận và ngày nay ở nhiều nơi người ta không dùng thuật ngữ “thủ công nghiệp” mà chỉ dùng thuật ngữ “tiểu công nghiệp” để chỉ nền sản xuất công nghiệp có quy mô nhỏ. Ở Việt N am, dưới thời Pháp thuộc, từ nền sản xuất thủ công truyền thống đã xuất hiện các hình thức hiệp tác giản đơn, sau đó từng bước hình thành các doanh nghiệp tư nhân, với số công nhân làm thuê nhiều nhất là 300, còn chủ yếu từ 100 công nhân trở xuống. Bởi vậy, khái niệm về tiểu công nghiệp chủ yếu để chỉ bộ phận sản xuất công nghệ phNm và hàng tiêu dùng trong phạm vi kinh doanh của tư sản dân tộc Việt N am. Thuật ngử “tiểu công nghiệp “và thủ công nghiệp được Đảng và N hà nước sử dụng trong các văn bản về phát triển kinh tế sau khi giành được chính quyền tháng 8/1945.
Đến năm 1951, Chính cương của của Đảng Lao động Việt N am đề cập đến thuật ngữ “tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp”, nhưng các văn bản của Đảng, N hà nuớc thời kỳ này chỉ dùng chung một thuật ngữ là “thủ công nghiệp”. Trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng và N hà nước từ năm 1960 đến nay, đều dùng thuật ngữ “tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp” [18]. Công trình khoa học “Tiểu, thủ công nghiệp Việt N am giai đoạn 1858- 1945" của Phó giáo sư Vũ Huy Phúc đã đưa ra khái niệm TTCN thời cận đại như sau: “tiểu, thủ công nghiệp thời cận đại bao gồm toàn bộ nền sản xuất các mặt hàng 7 tiêu dùng phi nông nghiệp truyền thống hoặc mới du nhập do người Việt N am tiến hành ở nông thôn, ở các làng chuyên nghề và các đô thị, thị trấn, không loại trừ một bộ phận sản xuất của Tư sản công nghiệp nhỏ dân tộc” [12]. Trong thời kỳ đổi mới đã có nhiều tác giả nghiên cứu về ngành TTCN , với nhiều cách tiếp cận khác nhau đã đưa ra những quan niệm về ngành TTCN.
N guyễn Ty trong luận án Phó tiến sỹ kinh tế đã quan niệm: “Thủ công nghiệp ở nông thôn hay còn gọi là công nghiệp nông thôn ở trình độ thấp là một bộ phận của hệ thống công nghiệp mà trong đó quá trình lao động chủ yếu dựa vào lao động chân tay sử dụng các công cụ sản xuất giản đơn để chế biến nguyên liệu ra sản phNm” và “tiểu công nghiệp hay còn gọi là công nghiệp có quy mô nhỏ, sử dụng công cụ lao động nữa cơ khí hoặc các máy móc nhỏ hiện đại để chế biến nguyên liệu ra các sản phNm cho xã hội”. Tác giả kết luận “Thủ công nghiệp, TTCN nông thôn cũng là một bộ phận của công nghiệp, tồn tại khách quan trong các phương thức sản xuất của xã hội [16]. Từ những quan niệm trên, chúng ta có thể tiếp cận khái niệm TTCN từ những góc độ khác nhau và có thể rút ra một số điểm cơ bản sau đây: Thứ nhất, các quan niệm trên về TTCN đứng riêng rẻ không có giá trị phổ biến cho các nước trên thế giới, nhưng có giá trị bổ sung cho nhau và là một trong những cơ sở để các nước thể chế hóa thành luật, hoạch định các chính sách riêng cho khu vực này và giúp cho sự quản lý, điều hành các chương trình của Chính phủ về phát triển TTCN. N ội dung các định nghĩa có sự thay đổi theo thời gian, tùy thuộc vào điều kiện phát triển của mỗi nước.
Thứ hai, tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp là một bộ phận của hệ thống công nghiệp. Trong quá trình sản xuất, lao động thủ công nghiệp chủ yếu là lao động thủ công với các công cụ sản xuất thô sơ; còn lao động tiểu công nghiệp thì chủ yếu là lao động sử dụng máy móc với các công cụ lao động bán cơ khí và cơ khí ở trình độ công nghệ khác nhau và với quy mô nhỏ. Thứ ba, có thể lấy số lượng công nhân và mức vốn cố định làm tiêu chí để xác định các cơ sở sản xuất TTCN. Các nước trên thế giới và các tổ chức nghiên cứu về tiểu công nghiệp khi xác định doanh nghiệp công nghiệp quy mô nhỏ đều 8 lấy số lao động và vốn sản xuất của các cơ sở TTCN làm tiêu chí xác định.
Ở nước ta hiện nay, quy mô của các cơ sở sản xuất TTCN không vượt quá giới hạn của tiêu chí xác định các DN nhỏ và vừa trong nông thôn. Từ những vấn đề nêu trên, cùng với sự phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật và xu hướng phát triển của ngành TTCN nông thôn trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước, có thể quan niệm: Tiểu thủ công nghiệp là những hoạt động sản xuất công nghiệp quy mô nhỏ trên địa bàn nông thôn, trong quá trình SXKD sử dụng công cụ lao động thủ công, công cụ bán cơ khí và trong một chừng mực nhất định sử dụng công cụ cơ khí và máy móc hiện đại cùng các nguồn lực ở nông thôn để sản xuất ra nhiều loại sản phNm nhằm thoả mãn các nhu cầu khác nhau của xã hội hoặc để khôi phục giá trị sử dụng của sản phNm được tiêu dùng trong quá trình sản xuất và trong sinh hoạt. N hư vậy, TTCN nông thôn là ngành kinh tế thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất, một bộ phận cấu thành nền sản xuất vật chất của xã hội, tồn tại khách quan trong các phương thức sản xuất của xã hội và nằm trong hệ thống công nghiệp nông thôn, là một nền công nghiệp có quy mô nhỏ, kỹ thuật và công nghệ sản xuất có sự kết hợp đa dạng giữa lao động thủ công, lao động cơ khí, phương tiện và máy móc hiện đại. Trong quá trình hoạt động, các nguồn lực ở nông thôn như: lao động, vốn, tài nguyên… được sử dụng để sản xuất ra nhiều loại hàng hoá phục vụ nhu cầu tiêu dùng của xã hội và sản xuất của nhiều ngành kinh tế khác nhau.
Các chủ thể tham gia sản xuất trong các ngành TTCN là hộ gia đình, tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn… 1. Phân loại tiểu thủ công nghiệp Có thể sử dụng những tiêu chí khác nhau để phân loại TTCN trong nông thôn. Tuy nhiên, việc sử dụng tiêu chí phân loại nào là tuỳ theo mục đích của việc phân loại. Để phù hợp với mục đích nghiên cứu của đề tài, tác giả lựa chọn tiêu chí phân loại dựa trên những đặc trưng sau đây của các hoạt động sản xuất TTCN : - Trong hoạt động sản xuất cùng thực hiện một loại công nghệ hoặc công nghệ tương tự.
9 - Sản phNm được sản xuất ra từ một loại nguyên liệu hay nguyên liệu đồng loại. - Sản phNm có công dụng cụ thể giống nhau hoặc tương tự nhau. Căn cứ vào 3 đặc trưng cơ bản trên TTCN trong nông thôn được phân loại thành các Tiểu ngành nghề gồm: - Tiểu ngành nghề khai thác - Tiểu ngành nghề chế biến nông sản thực phNm - Tiểu ngành nghề dệt, may mặc - Tiểu ngành nghề sứ, thuỷ tinh, vật liệu xây dựng - Tiểu ngành nghề cơ khí - Các ngành nghề khác như: N gành công nghiệp da giày, sản xuất phân bón, sản xuất giấy, sản xuất nhựa… Phân loại theo Tiểu ngành TTCN nêu trên có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu đánh giá thực trạng và xây dựng một cơ cấu TTCN hợp lý để phát huy lợi thế của các ngành TTCN trong phát triển kinh tế - xã hội nông thôn. Lý luận về phát triển tiểu thủ công nghiệp 1.
Khái niệm phát triển tiểu thủ công nghiệp Phát triển là khuynh hướng vận động đã xác định về hướng của sự vật: hướng đi lên từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. N hưng nếu hiểu sự vận động phát triển một cách biện chứng toàn diện, sâu sắc thì trong tự bản thân sự vận động phát triển đã bao hàm sự vận động thụt lùi, đi xuống với nghĩa là tiền đề, điều kiện cho sự vận động đi lên, hoàn thiện. Ý nghĩa của nguyên lý này đòi hỏi: trong khi xem xét, đánh giá sự vật, hiện tượng phải tôn trọng nguyên tắc phát triển của chúng, không được thành kiến, định kiến. Luôn lạc quan tin tưởng vào khuynh hướng vận động của sự vật, tạo mọi điều kiện để sự vật phát triển [1].
Phát triển kinh tế bao hàm trong nó mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Tăng trưởng và phát triển kinh tế là điều kiện tiên quyết và cơ bản để giải quyết công bằng xã hội, công bằng xã hội vừa là mục tiêu phấn đấu của nhân loại, vừa là động lực của sự phát triển. Mức độ công bằng xã hội càng cao thì trình độ phát triển, trình độ văn minh của xã hội càng có cơ sở bền vững. 10 Tăng trưởng KT là điều kiện cần để phát triển KT.
Ở những nước đang phát triển, đặc biệt là những nước đang phát triển có mức thu nhập bình quân đầu người thấp, nếu không đạt được mức tăng trưởng tương đối cao và liên tục trong nhiều năm, thì khó có điều kiện KT để cải thiện mọi mặt của đời sống KT- XH. Tuy nhiên tăng trưởng KT chỉ là điều kiện cần, không phải là điều kiện đủ để phát triển KT. Tăng trưởng KT có thể được thực hiện bởi những phương thức khác nhau và do đó có thể dẫn đến những kết quả khác nhau.