CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1.1 Tổng quan các nghiên cứu đã công bố ở trong và ngoài nước về FDI và ảnh hưởng của FDI theo quan điểm phát triển bền vững 1.1 Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài về FDI và các ảnh hưởng của FDI theo quan điểm phát triển bền vững a) FDI và vấn đề kinh tế: - Moosa, Imad A. (2002) Foreign Direct Investment: Theory, Evidence and Practice. Tác giả đã nêu các lý thuyết cơ bản về FDI và tổng hợp các cách phân loại FDI. Bên cạnh đó, tác giả đã phân tích ảnh hưởng tích cực cũng như một số rủi ro của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lên thị trường vốn, cán cân thanh toán, thị trường lao động và tiền lương, ảnh hưởng lên các yếu tố khác như môi trường chính trị, thuế.
Hiện tượng “chuyển giá” và mối liên hệ giữa FDI với các công ty đa quốc gia cũng được phân tích cụ thể. Đặc biệt, sách đã nêu lên các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài, qua đó hình thành sơ bộ bộ chỉ tiêu đánh giá dự án đầu tư. - Laura Alfaro (2003), “Foreign Direct Investment and Growth: Does the Sector Matter?”. Nghiên cứu cho thấy FDI ở các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế (sản xuất, dịch vụ, v.) có ảnh hưởng khác nhau đến tăng trưởng kinh tế.
Dòng vốn FDI chảy vào khu vực nguyên khai như nông nghiệp, khai khoáng có xu hướng đưa tới ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng, trong khi đó dòng vốn FDI chảy vào khu vực sản xuất có xu hướng mang tới ảnh hưởng tích cực. Các tác động của FDI tới khu vực dịch vụ không rõ ràng. Nghiên cứu phỏng đoán rằng những khoản đầu tư này có ít ảnh hưởng lan tỏa cho nền kinh tế nước chủ nhà ở lĩnh vực nông nghiệp và khai khoáng; không phải tất cả các hình thức đầu tư nước ngoài đều có lợi cho nền kinh tế chủ nhà. Các quốc gia có thể đặt mục tiêu thu hút FDI vào một số ngành nhất định bằng cách theo đuổi các chính sách thu hút đầu tư; môi trường kinh tế của nước nhận đầu tư cũng là 8 một trong những yếu tố quan trọng cần xem xét khi đề ra các chính sách thu hút đầu tư.A (2013), “Foreign Direct Investment and Economic Growth Literature Review from 1994 to 2012”.
Nghiên cứu tổng quan lại các nghiên cứu trước đây trong giai đoạn 1994-2013 về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế. Việc tổng quan các nghiên cứu chỉ ra rằng phần lớn các nghiên cứu chỉ ra ảnh hưởng tích cực của dòng vốn FDI đến tăng trưởng kinh tế của nước nhận đầu tư; chỉ trong một vài trường hợp xảy ra những tác động tiêu cực hoặc không có ảnh hưởng nào. Trong nghiên cứu này, một số yếu tố khác đóng vai trò quan trọng trong mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế đã được tìm ra như mức độ vốn con người, sự phát triển tốt của thị trường tài chính và nền thương mại mở cửa; mặt khác sự phụ thuộc vào đầu tư nước ngoài và khoảng cách công nghệ là ảnh hưởng tiêu cực của mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, ảnh hưởng từ mức thu nhập của nước nhận đầu tư và chất lượng môi trường chính trị tới tác động của FDI lên tăng trưởng kinh tế vẫn cần xem xét thêm.
- OECD Benchmark Definition of Foreign Direct Investment (2008). Tài liệu thiết lập tiêu chuẩn đo lường và thống kê cho Đầu tư trực tiếp nước ngoài, phân tích các yếu tố cấu thành dòng vốn FDI vào và FDI ra, ảnh hưởng của FDI tới cán cân thanh toán và gợi ý phương pháp định lượng đánh giá các công ty đa quốc gia – yếu tố liên quan mật thiết đến sự tồn tại của FDI. Sự khác nhau trong việc phân tích cấu thành dòng vốn FDI ở cấp độ quốc gia và ngành công nghiệp cũng được đề cập. Nghiên cứu góp phần tiêu chuẩn hóa phương pháp thống kê bao gồm mối quan hệ giữa FDI và các đo lường khác của toàn cầu hóa.
Cacho (2007), “Linkage Between Foreign Direct Investment, Trade and Trade Policy: An Economic Analysis with Application to the Food Sector in OECD Countries and Case Studies in Ghana, Mozambique, Tunisia and Uganda”, OECD Trade Policy Papers, No. Bằng phân tích thực nghiệm và case study, tài liệu khai thác mối quan hệ giữa FDI, thương mại và các chính sách liên quan đến thương 9 mại trong khối nước OECD và 4 nước Châu Phi (Ghana, Mozambique, Tunisia và Uganda). Tại các nước OECD, thuế và hỗ trợ thị trường giá có thể ảnh hưởng tới việc phân bổ dòng vốn FDI, FDI có thể được dùng để tránh rào cản thuế. Các nhà đầu tư khai thác sự khác biệt về thuế giữa nước nhận đầu tư có với nước thứ ba.
Nghiên cứu đã dùng 4 case study tại châu Phi để làm rõ sự tương tác qua lại giữa chính sách, đầu tư nước ngoài và thương mại như FDI giúp doanh nghiệp phát triển các nguồn lực để đủ điều kiện thâm nhập thị trường các nước OECD. - Letto-Gillies, Grazia (2005), “Transnational corporations and international production: concepts, theories and effects”. Trong cuốn sách này tác giả Letto-Gillies và Grazia đã tiếp cận, phân tích bản chất việc hình thành Đầu tư trực tiếp nước ngoài và đưa ra khái niệm Đầu tư trực tiếp nước ngoài; phân biệt FDI với các loại hình đầu tư khác; phân loại các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài kèm các ví dụ. Trong nghiên cứu của mình, tác giả cũng đã tổng hợp và tóm tắt các lý thuyết FDI kinh điển của Hymer, Dunning, Buckley and Casson, Vernon, Cantwell và nhiều nhà nghiên cứu khác.
Cuốn sách tập trung chủ yếu vào việc phân tích các góc độ khác nhau của các nhà nghiên cứu về việc hình thành, phát triển của FDI và mối quan hệ của FDI đến các yếu tố kinh tế, thương mại, trên cơ sở đó dự báo xu hướng phát triển của FDI trên thế giới. - Trong cuốn International Business: Theory of the multinational enterprise được chỉnh sửa bởi Alan M. Caves phân loại FDI theo chiều dọc và chiều ngang, tác giả phân tích dựa trên góc độ chuyển dịch nguồn vốn trong đó có đề cập ảnh hưởng của thị trường vốn tới dòng vốn FDI và ngược lại.Rugman cũng tổng hợp các nghiên cứu về FDI của các nhà kinh tế và tập trung phân tích sự chuyển dịch dòng vốn FDI giữa các quốc gia. - “Foreign Direct Investment Statistics: How Countries measure FDI 2001”, International Monetary Fund: OECD, 2003.
Báo cáo cung cấp thông tin và số liệu đo lường thống kê về FDI của 61 quốc gia, giúp người đọc hiểu hơn về phương pháp áp dụng nhằm thu thập và xử lý thông tin. Báo cáo cũng đưa ra định nghĩa về doanh 10 nghiệp đầu tư trực triếp và nhà đầu tư trực tiếp, những yếu tố cấu thành vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. b) FDI và vấn đề xã hội: - Arnal, E. Hijzen (2008), “The impact of Foreign Direct Investment on Wages and Working Conditions”, OECD Social, Employment and Migration Working Papers, No.
Báo cáo cung cấp thông tin về các xu hướng khác nhau của FDI trong 2 thập kỷ tại các nước thuộc và không thuộc OECD (Tổ chức hợp tác và kinh tế phát triển), đồng thời đưa ra các phân tích thực nghiệm về tác động của FDI tới tiền lương và điều kiện làm việc của lao động tại các nước thuộc OECD. Báo cáo chỉ ra rằng các công ty đa quốc gia có xu hướng trả lương cao hơn so với các công ty nội địa, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Tác động tích cực về tiền lương cũng lan tỏa tới lao động tại các công ty nội địa hoạt động như nhà cung cấp cho công ty nước ngoài hoặc tuyển dụng nhân sự có kinh nghiệm làm việc cho công ty nước ngoài, tuy nhiên tác động lan tỏa này không lớn. Hijzen (2008), “The Impact of Foreign Direct Investment on Wages and Working Conditions”.
Nghiên cứu thực hiện rà soát lại các nghiên cứu trước đó về tác động của FDI đến thị trường lao động và trình bày kết quả nghiên cứu chính. Nhìn chung, các minh chứng cho thấy các công ty đa quốc gia có xu hướng trả lương cao hơn ở các quốc gia mà các công ty hoạt động. Tác động tích cực của FDI tới tiền lương có xu hướng tập trung vào các công nhân được các công ty đa quốc gia sử dụng trực tiếp, và tác động tích cực này cũng xuất hiện tuy không lớn ở các doanh nghiệp nội địa tham gia vào chuỗi cung ứng thiết lập bởi các MNEs. Những tác động tích cực này rõ rệt ở các quốc gia đang phát triển hơn là tại các quốc gia phát triển bởi vì khoảng cách công nghệ giữa doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp trong nước lớn hơn.
Thực tế cho thấy ảnh hưởng của dòng vốn FDI tới tiền lương và điều kiện lao động thay đổi tùy theo các điều kiện khác nhau của loại hình đầu tư, nhóm lao động và môi trường quốc gia nhận đầu tư. Do vậy, chính phủ và các bên liên quan cần có biện pháp để tăng cường lợi ích và đóng góp của FDI đến phát triển kinh tế và xã hội. Một 11 số giải pháp được đề xuất là chính phủ thực hiện các tiêu chuẩn về lao động, các biện pháp thúc đẩy hành vi kinh doanh có trách nhiệm. de Groot (2014), “Foreign direct investment and welfare”.
Nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa FDI và phúc lợi xã hội nói chung, trong đó chỉ ra rằng FDI làm tăng bất bình đẳng (bằng cách đo lường chỉ số Gini), FDI mang lại lợi ích cho người giàu nhiều hơn là người nghèo. Ngoài ra, nghiên cứu chỉ ra rằng FDI có tác động tiêu cực đến phát triển con người, đặc biện là Chỉ số phát triển con người (Human Development Index), điều này có thể do việc các chỉnh phủ chi tiêu quá mức vào việc thu hút FDI dẫn tới việc thiếu khả năng đầu tư cho các mục tiêu quan trọng khác đối với phát triển con người (ví dụ y tế, giáo dục). Các kết luận của nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng của FDI đôi khi không như các nhà hoạch định chính sách mong đợi, mặc dù nhiều trường hợp cụ thể FDI có liên quan đến tăng trưởng kinh tế, nhưng không nên xem đây là nguyên tắc cố định. Do vậy, các chính sách khuyến khích thu hút FDI cần được cân nhắc cẩn thận sau khi đã phân tích chi phí – lợi ích, thay vì mục tiêu thu hút FDI bằng mọi giá thì chính phủ cần cải thiện môi trường đầu tư và tình hình kinh tế nhằm gia tăng dòng vốn FDI.